Ứng dụng công nghệ sinh học trong nông nghiệp - gia tăng lợi nhuận, bảo vệ môi trường

12/04/2021

Cây trồng công nghệ sinh học chính thức được cấp phép canh tác và thương mại từ năm 2014 ở nước ta. Việc ứng dụng công nghệ sinh học trong nông nghiệp giúp Việt Nam chủ động hơn trong nguồn cung thực phẩm và hỗ trợ các nông hộ nhỏ gia tăng thu nhập, và được xem là giải pháp hướng tới phát triển bền vững nền nông nghiệp.

Đây là ý kiến được đưa ra tại hội thảo “Đóng góp của ứng dụng công nghệ sinh học trong nông nghiệp tại Việt Nam” diễn ra ngày 7/4/2021 tại Hà Nội. Hội thảo do Trung ương Hội Nông dân Việt Nam phối hợp với Hiệp hội Thương mại Giống cây trồng và Tổ chức quốc tế về ứng dụng và tiếp thu công nghệ sinh học trong nông nghiệp tổ chức.

Hội thảo “Đóng góp của ứng dụng công nghệ sinh học trong nông nghiệp tại Việt Nam”  

Tại hội thảo, Tổng thư ký Hiệp hội Thương mại Giống cây trồng Việt Nam Trần Xuân Định cho biết: Trong những thập niên đầu của thế kỷ 21, với lĩnh vực nông nghiệp, chúng ta chứng kiến sự bứt phá của khoa học, đặc biệt là công nghệ sinh học với những phát minh của công nghệ di truyền, công nghệ gen, công nghệ vi sinh… Nhiều giống cây trồng được tạo ra bằng CNSH đã có mặt ở Việt Nam, giúp nông dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, nâng cao thu nhập nhờ việc tăng năng suất và giảm thiểu chi phí thuốc bảo vệ thực vật.

Tiến sĩ Rhodora R. Aldemita - Giám đốc khu vực Đông Nam Á kiêm Giám đốc Trung tâm Kiến thức toàn cầu về CNSH của ISAAA cho biết thêm: “Năm 2019, tổng cộng có 190,4 triệu héc-ta cây trồng CNSH được canh tác góp phần quan trọng vào giải quyết các vấn đề về an ninh lương thực, tính bền vững, giảm thiểu biến đổi khí hậu cũng như nâng cao đời sống của hơn 17 triệu nông dân ứng dụng CNSH cùng gia đình của họ trên toàn cầu.

Tại Việt Nam, cây trồng CNSH chính thức được cấp phép canh tác thương mại từ 2014-2015 trên cây ngô. Trong giai đoạn 5 năm, từ năm 2015 đến năm 2019, tổng diện tích ngô ứng dụng công nghệ sinh học canh tác tại Việt Nam là 225.000 ha.

Việc đưa các giống công nghệ sinh học thời điểm đó được xem là một trong các công cụ quan trọng giúp tiếp tục nâng cao năng suất và chất lượng sản xuất, gia tăng giá trị và giúp nông dân trồng ngô có thêm lợi nhuận, từ đó củng cố năng lực của Việt Nam trong việc đảm bảo nguồn cung cho chuỗi thực phẩm và thức ăn chăn nuôi trong nước.

Thực tế trong nhiều năm qua, tổng diện tích canh tác ngô công nghệ sinh học khoảng 92.000 hécta, chiếm khoảng 10% tổng diện tích trồng ngô cả nước. Đặc biệt, tỉ lệ tăng trưởng hai con số về mặt diện tích trong các năm gần đây cho thấy mức độ chấp nhận của nông dân đối với công nghệ này đang tăng. "Nếu như vào năm 2015, tỉ lệ ứng dụng còn khiêm tốn khoảng 3.500 hécta chiếm chưa tới 1% tổng diện tích; tới nay diện tích ứng dụng đã tăng hơn 26 lần. Chỉ so sánh riêng giai đoạn 2018 – 2019, tỉ lệ tăng trưởng là 86%"- ông Trần Xuân Định cho biết.

Vào năm 2019 - 2020, Hiệp hội Thương mại giống cây trồng Việt Nam phối hợp với Viện PG Economics (Anh quốc) đã tiến hành nghiên cứu đánh giá và phân tích tác động của cây ngô CNSH với các tính trạng chuyển gen kháng sâu và chống chịu thuốc trừ cỏ sau 5 năm canh tác.

Trình bày kết quả nghiên cứu, ông Trần Xuân Định cho hay, tổng diện tích ngô CNSH canh tác tại Việt Nam cho cả giai đoạn 2015 - 2019 là 225.000 ha. Riêng năm 2019, diện tích canh tác ngô CNSH là 92.000 ha, chiếm 10% tổng diện tích ngô cả nước. Năng suất thu hoạch được của các giống ngô CNSH với các tính trạng kháng sâu và chống chịu thuốc trừ cỏ cao hơn so với các giống ngô lai thường từ 15,2% tới 30%.

Lợi nhuận canh tác có được từ việc trồng các giống ngô CNSH cũng gia tăng với mức từ 196 USD/ha cho tới 330 USD/ha. Tổng thu nhập tích luỹ tăng thêm khi ứng dụng ngô CNSH là từ 43,8 cho tới 74,1 triệu USD. Lượng thuốc bảo vệ thực vật sử dụng khi canh tác ngô CNSH giảm đáng kể với thuốc trừ cỏ là 26% và thuốc trừ sâu là 78%; các tác động môi trường tính toán được từ việc giảm các loại thuốc này tương ứng là 36% và 77% (theo chỉ sổ EIQ)…

Cần tạo điều kiện cho nông dân ứng dụng giống cây trồng CNSH

Hiện nông dân nhiều nơi đã lựa chọn cây trồng công nghệ sinh học do giống cây này mang lại hiệu quả kinh tế cao. Như tại tỉnh Nghệ An đã có khoảng hơn 10.000 ha trồng ngô được người nông dân trồng giống ngô công nghệ sinh học. Là nông dân lựa chọn giống ngô công nghệ sinh học trồng trên diện tích trên 50 ha, cung cấp ngô sinh khối cho nhiều doanh nghiệp lớn, ông Nguyễn Thanh Phong- nông dân ở huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An cho biết, việc lựa chọn trồng ngô công nghệ sinh học đã đem lại hiệu quả kinh tế cao do tiết kiệm chi phí mua thuốc, phun thuốc trừ sâu bệnh và triệt cỏ, đồng thời còn có tác dụng bảo vệ môi trường.

“Các giống ngô công nghệ sinh học giúp kháng các loại sâu bệnh đến 95%, trong khi đối với các giống ngô thường, đặc biệt vào điều kiện nhiệt độ cao như tại tỉnh Nghệ An thì sâu phá hoại gần như toàn bộ, dẫn đến không còn thu hoạch được. Sử dụng giống ngô công nghệ sinh học giúp kháng các loại sâu bệnh đến 95%. Nhờ không phải phun thuốc trừ sâu, gia đình tôi tiết kiệm được chi phí mua thuốc, chi phí phun thuốc, năng suất ngô CNSH tăng 20%. Việc không phun thuốc cũng giúp bảo vệ môi trường tốt hơn”- ông Nguyễn Thanh Phong chia sẻ.

Theo GS. Lê Huy Hàm- Chủ tịch Hội đồng khoa học, Viện Di truyền nông nghiệp Việt Nam, trong 5 năm triển khai, tỷ lệ ngô công nghệ sinh học mới chỉ đạt 10% diện tích ngô cả nước, trong khi theo kế hoạch trình Thủ tướng Chính phủ thì đến năm 2020 phấn đấu đạt từ 30 đến 50% diện tích loại cây trồng này.

Từ 10% diện tích cây trồng biến đổi gen đã mang lại lợi nhuận khoảng từ 17 đến 30 triệu USD, nếu diện tích trồng tăng gấp 10 lần thì sẽ mang lại lợi nhuận 200 - 300 triệu USD cho người nông dân, đây là con số rất đáng khích lệ. Trong thời gian tới, cần tích cực đẩy mạnh ứng dụng công nghệ sinh học để gia tăng lợi nhuận cho người nông dân; đồng thời đem lại lợi ích về sản xuất nông nghiệp bền vững, góp phần bảo vệ môi trường- GS. Lê Huy Hàm cho biết.

Ông Nguyễn Xuân Định - Phó chủ tịch Trung ương Hội Nông dân Việt Nam cho biết, ứng dụng công nghệ sinh học trong nông nghiệp là định hướng phát triển của Chính phủ và luôn là một trong các trọng tâm nghiên cứu và phát triển tại Việt Nam. Tuy còn gặp nhiều khó khăn nhưng đây vẫn được xem là giải pháp hướng tới phát triển bền vững nền nông nghiệp, giúp Việt Nam chủ động hơn trong nguồn cung thực phẩm và hỗ trợ các nông hộ nhỏ của Việt Nam gia tăng thu nhập.

Để nhân rộng việc sử dụng các loại giống cây trồng công nghệ sinh học, các cơ quan quản lý chuyên ngành, các cơ quan nghiên cứu cần nhanh chóng đánh giá, khẳng định tác động của việc sử dụng giống cây trồng công nghệ sinh học đối với con người, sản xuất cũng như môi trường. Trên cơ sở đó đề xuất cơ chế chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho bà con nông dân ứng dụng giống cây trồng công nghệ sinh học nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn- ông Nguyễn Xuân Định nhấn mạnh.

Theo: vietq.vn

Các tin đã đưa ngày: