Giải pháp phát triển nguồn nhân lực vùng thiểu số và miền núi tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2020

29/12/2015

Sau gần 10 năm thực hiện chính sách của Đảng, Nhà nước, đến nay, vùng dân tộc thiểu số và miền núi tỉnh Vĩnh Phúc đã có sự “thay da, đổi thịt”, đời sống đồng bào dân tộc thiểu số đã được cải thiện rõ rệt. Tuy nhiên, chưa phải đã hết khó khăn, thách thức. Một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi vẫn nằm trong diện hộ nghèo, chênh lệch về thu nhập, phúc lợi xã hội của người dân giữa vùng núi và đồng bằng còn cao, đang có xu hướng dãn rộng.

Sau gần 10 năm thực hiện chính sách của Đảng, Nhà nước, đến nay, vùng dân tộc thiểu số và miền núi tỉnh Vĩnh Phúc đã có sự “thay da, đổi thịt”, đời sống đồng bào dân tộc thiểu số đã được cải thiện rõ rệt. Tuy nhiên, chưa phải đã hết khó khăn, thách thức. Một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi vẫn nằm trong diện hộ nghèo, chênh lệch về thu nhập, phúc lợi xã hội của người dân giữa vùng núi và đồng bằng còn cao, đang có xu hướng dãn rộng. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do nguồn nhân lực ở đây không đủ mạnh để thực hiện các chương trình, dự án mà nhà nước đưa lại về đào tạo, y tế, phát triển sản xuất, cải thiện điều kiện sống... Vì vậy, năm 2014, Ban Dân tộc Tỉnh đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu giải pháp phát triển nguồn nhân lực vùng thiểu số và miền núi tỉnh Vĩnh Phúc nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội đến năm 2020”. Đề tài nhằm nghiên cứu các vấn đề về lý luận và thực tiễn trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đặc biệt là nâng cao đời sống văn hóa, vật chất, tinh thần cho đồng bào vùng dân tộc, thiểu số và miền núi của Tỉnh.

Đề tài đã điều tra, khảo sát 40 xã vùng núi, dân tộc và thiểu số của Tỉnh, trong đó điều tra điển hình tại 4 xã: Đạo Trù, Yên Dương (Tam Đảo), Trung Mỹ (Bình Xuyên) và Bắc Bình (Lập Thạch) cho thấy Vĩnh Phúc có 29 dân tộc thiểu số với 9.127 hộ, chiếm tỷ lệ 4,25% dân số toàn Tỉnh. Trong những năm qua, cùng với những thành tựu về phát triển kinh tế, phát triển nguồn nhân lực của vùng dân tộc và thiểu số đã có những chuyển biến tích cực. Nguồn nhân lực trong nhóm độ tuổi từ 15 đến 55 tuổi chiếm tỉ lệ cao trong cơ cấu nguồn nhân lực, tỷ lệ giữa lao động nữ tương đối cân bằng với lao động nam (46,9%). Giáo dục ở khu vực này đã có những chuyển biến với 100% trẻ em trong độ tuổi được đến trường, trong khi đó tỷ lệ này ở vùng trung du miền núi phía Bắc là 92%. Trình độ học vấn tốt nghiệp THCS và THPT lần lượt là 40,2% và 25,1%, đây chính là nền tảng để tiếp tục vào học các trường kỹ thuật nghề, cao đẳng và đại học. Tốc độ tăng dân số ở vùng dân tộc và miền núi được kiểm soát và tương đối ổn định, duy trì phát triển  nguồn nhân lực về mặt số lượng. Tỷ lệ tăng dân số còn cao nhưng đang có xu hướng giảm (xấp xỉ 1,7%), góp phần giảm áp lực trong công tác giải quyết việc làm cho người lao động. Hàng năm, số lao động có việc làm không ngừng tăng lên, tỷ lệ thất nghiệp có xu hướng giảm. Người dân đã bước đầu ứng dụng có hiệu quả các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Cơ cấu ngành nghề  của lao động có sự thay đổi theo hướng tích cực, giảm số lượng và nhóm hộ nông - lâm nghiệp, tăng tỷ trọng nhóm hộ công nghiệp và dịch vụ (từ 74,1% năm 2006 xuống còn 58,9% năm 2010). Các dịch vụ, doanh nghiệp nhỏ lẻ đang ngày càng phát triển để thu mua hàng hóa nông sản của dân, tạo điều kiện cho việc khuyến khích người dân mở rộng sản xuất, nâng cao thu nhập.

Về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, điều tra cho thấy tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động chưa được đào tạo ở các vùng này cao hơn rất nhiều mức bình quân chung của Tỉnh. Tỷ trọng dân số trong độ tuổi lao động đã qua đào tạo chủ yếu ở bậc sơ cấp và trung cấp, ở cấp đại học, cao đẳng chiếm tỷ trọng thấp. Vẫn còn 4,6% cán bộ, công chức có trình độ sơ cấp, chưa đáp ứng được yêu cầu theo quy định tại Thông tư 06/2012/TT-BNV, có 97,3% cán bộ thôn chưa qua đào tạo trình độ chuyên môn, gây ảnh hưởng rất lớn đến việc truyền đạt chủ trương, chính sách của địa phương đến với người dân và nắm bắt tình hình dư luận xã hội trong nhân dân.

Trạng thái, thể chất của nguồn nhân lực dù đã được cải thiện, nhưng vẫn trong tình trạng báo động. Theo điều tra, số thành viên trong gia đình có sức khỏe tốt chỉ chiếm 58,1%. Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng chiếm 13,2% năm 2012, vẫn còn cao hơn nhiều so với các vùng khác và so với mục tiêu của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh khóa XV (năm 2015 còn khoảng 10%). Nguyên nhân là do một số yếu tố: Tỷ lệ hộ nghèo cao, nước sạch và vệ sinh môi trường chưa tốt, hạn chế trong việc tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và tập quán của một số nhóm dân tộc thiểu số. Qua phân tích cho thấy, một số chỉ tiêu quan trọng như: Tỷ lệ lực lượng lao động trong tổng dân số, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, tốc độ chuyển dịch cơ cấu ngành nghề của lao động; thu nhập bình quân đầu người hàng năm,...còn thấp hơn nhiều so với bình quân chung của Tỉnh, vì vậy đã ảnh hưởng không nhỏ tới phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Để phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số và miền núi đến năm 2020, đáp ứng yêu cầu của một tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại, đề tài đề xuất thực hiện một số giải pháp sau:

- Cần sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh một số vấn đề trong chính sách y tế: Đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền về bảo vệ sức khỏe để nâng cao nhận thức cho đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) hiểu rõ về tầm quan trọng, cũng như cách thức chăm sóc sức khỏe. Tiếp tục hỗ trợ cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí cho người dân. Đối với các xã vùng sâu, vùng xa, cần tiếp tục hỗ trợ để đảm bảo cho người dân các vùng này được hưởng các dịch vụ phòng, chống một số bệnh thường gặp ở các vùng dân tộc và miền núi như sốt rét, bướu cổ…;

- Các chính sách về giáo dục, đào tạo: Cần có chính sách phù hợp cho giáo viên mầm non. Chính sách cử tuyển cần được tiếp tục thực hiện, nhưng cần tập trung ưu tiên cho DTTS, để tránh tình trạng lãng phí nguồn lực như sinh viên tốt nghiệp vùng dân tộc và miền núi về địa phương không tìm được việc làm. Chuyển đào tạo nghề ngắn hạn sang hỗ trợ đào tạo nghề kết hợp với đào tạo văn hóa trước khi đào tạo nghề, tăng cường hướng nghiệp cho học sinh.

- Chính sách cán bộ: Quan tâm, tăng cường hỗ trợ về nhà ở cho bác sỹ, giáo viên công tác ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc và miền núi... Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức xã, có chính sách hỗ trợ hợp lý cho cán bộ thôn, bản. Chú trọng luôn chuyển và thu hút cán bộ.

- Đẩy mạnh áp dụng khoa học và công nghệ vào sản xuất trên cơ sở tận dụng, phát huy tri thức địa phương.

- Ngoài ra, cần quan tâm tới các chính sách về cải thiện đời sống, xóa đói giảm nghèo, phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn...

Các giải pháp trên vừa giải quyết được các vấn đề cấp bách và những vấn đề lâu dài của nguồn nhân lực vùng dân tộc, thiểu số và miền núi, nhằm tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cho vùng, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

BBT - Sở KH&CN Vĩnh Phúc

Các tin đã đưa ngày: