Để chính sách miễn, giảm thủy lợi phí phù hợp thực tế hơn

01/07/2020

Từ năm 2003, tỉnh ban hành chủ trương miễn, giảm thủy lợi phí cho người dân sản xuất trồng trọt trên địa bàn. Đây là chính sách mang nhiều ý nghĩa quan trọng bởi đã góp phần giảm chi phí cho sản xuất trồng trọt, tạo điều kiện phát triển sản xuất nông nghiệp bền vững và khắc phục các hạn chế trong quản lý, khai thác công trình thủy lợi. Tuy nhiên, sau thời gian thi hành, các chính sách cũng bộc lộ những điểm không phù hợp, cần sửa đổi, bổ sung.

Nhân viên Công ty TNHH MTV Thủy lợi Tam Đảo kiểm tra mức độ đảm bảo an toàn công trình thủy lợi. Ảnh: Khánh Linh
 

 

Hiệu quả rõ rệt

Chính sách miễn, giảm thủy lợi phí bắt đầu manh nha thực hiện từ năm 2003 bằng Thông báo số 68, ngày 8/10/2001 của Tỉnh ủy về thực hiện miễn giảm 100% thủy lợi phí cho cây vụ Đông.

Đến năm 2004, HĐND tỉnh ban hành Nghị quyết số 14 về miễn, giảm thủy lợi phí cho các hộ nông dân trên địa bàn tỉnh. Năm 2007, trên cơ sở Đề án số 34 của UBND tỉnh, HĐND tỉnh ban hành Nghị quyết số 09, ngày 11/5/2007 về hỗ trợ 100% thủy lợi phí cho sản xuất trồng trọt trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2007-2011.

Năm 2008, Nghị quyết số 09, ngày 11/5/2007 được thay thế bằng Nghị quyết số 21, ngày 25/7/2008 về miễn thủy lợi phí cho nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn tỉnh.

Năm 2010, sau khi đã hoàn thành bàn giao toàn bộ hệ thống công trình thủy lợi từ các xã, hợp tác xã về các công ty khai thác công trình thủy lợi quản lý và chuyển đổi các công ty khai thác công trình thủy lợi trực thuộc Sở NN&PTNT quản lý sang mô hình các Công ty TNHH MTV thủy lợi, HĐND tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 33 về cấp bù kinh phí miễn thủy lợi phí và hỗ trợ phí dịch vụ thủy lợi nội đồng trên địa bàn tỉnh (thay thế Nghị quyết số 21). Hiện nay, chính sách cấp bù kinh phí thủy lợi phí và hỗ trợ phí dịch vụ thủy lợi nội đồng vẫn đang được thực hiện theo Nghị quyết số 33.

Qua thời gian thực hiện chính sách miễn, giảm thủy lợi phí cho thấy, đây là chính sách hợp lòng dân, cơ bản đã khắc phục được những tồn tại hạn chế trước đây, góp phần củng cố hạ tầng nông nghiệp, đáp ứng nhiệm vụ tưới, tiêu phục vụ sản xuất và ổn định tình hình chính trị, xã hội ở khu vực nông thôn, giúp nông dân tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế, góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống người dân.

Người dân được hưởng lợi trực tiếp từ chính sách, không phải đóng góp thủy lợi phí, tạo động lực để phát triển, đầu tư thâm canh tăng năng suất cây trồng; không còn tình trạng bỏ ruộng đối với diện tích gieo cấy chính vụ do thiếu nước.

Tổng diện tích sản xuất nông nghiệp được miễn thủy lợi phí trên địa bàn tỉnh từ năm 2010 đến nay trung bình hàng năm là hơn 100 nghìn ha/năm; trong đó: Vụ Chiêm là 40 nghìn ha; vụ Mùa 35 nghìn ha; vụ Đông 26 nghìn ha và thủy sản 3 nghìn ha. Kinh phí cấp bù miễn thủy lợi phí cho các công ty thủy lợi đạt khoảng 1.000 tỷ đồng.

Vùng tưới cho cây trồng được tăng thêm, chủ động được nguồn nước tưới, nhiều diện tích trước đây do khó khăn về nguồn nước, địa phương thiếu kinh phí để bơm tưới đã bị bỏ hoang hoặc chuyển sang trồng màu đến nay đã có thể cấy 2 vụ lúa và trồng được cây vụ đông.

Nhờ đó, sản lượng cây lương thực được duy trì ổn định trong khoảng 380-400 nghìn tấn/năm, tương đương với sản lượng năm 2010, mặc dù diện tích gieo trồng hiện nay đã giảm hơn 7.000 nghìn ha so với năm 2010, góp phần đưa giá trị sản xuất nông nghiệp toàn tỉnh tăng trung bình hơn 6% mỗi năm trong giai đoạn 2010-2018.

Những hạn chế cần khắc phục

Mặc dù đã phát huy hiệu quả rõ rệt, tuy nhiên qua thời gian thực hiện, chính sách miễn, giảm thủy lợi phí cũng bộc lộ nhiều hạn chế cần sớm khắc phục, đó là: Tình trạng một bộ phận người dân chưa chủ động lấy nước vào ruộng, phó mặc trách nhiệm cho các công ty khai thác thủy lợi; ý thức, trách nhiệm bảo vệ công trình thủy lợi chưa cao, thường xuyên xảy ra việc xả thải, vứt xác động vật chết vào công trình thủy lợi.

Mô hình tập trung công tác quản lý nội đồng về 4 Công ty TNHH MTV thủy lợi dẫn đến hạn chế sự tham gia của người được hưởng lợi, một số nơi các cấp chính quyền phó mặc công tác thủy lợi cho các công ty.

Nhận thức về chính sách cấp bù thủy lợi phí và hỗ trợ phí dịch vụ thủy lợi nội đồng của một bộ phận cán bộ, người dân chưa đầy đủ nên việc triển khai gặp nhiều khó khăn.

Tỉnh chưa ban hành được định mức kinh tế kỹ thuật quản lý khai thác công trình thủy lợi, điểm giao nhận dịch vụ thủy lợi (cống đầu kênh); đơn giá dịch vụ thủy lợi (thủy lợi phí) chậm được cập nhật, hiện đơn giá vẫn áp dụng theo quy định từ năm 2012 trong khi các loại chi phí của doanh nghiệp đều tăng cao như: Lương, bảo hiểm, nhiên liệu…

Khu vực canh tác rộng, nhiều khu vực chia cắt, manh mún; hệ thống kênh mương nội đồng nhiều, trải rộng trên khắp địa bàn trong khi mức kinh phí hỗ trợ công tác nội đồng không cập với giá cả thị trường, nguồn thu từ công tác nội đồng không đủ để chi, các công ty thủy lợi phải bù từ nguồn cấp bù do miễn thủy lợi phí dẫn đến công tác nạo vét kênh mương chưa đảm bảo.

Để giải quyết những tồn tại trên, theo đề xuất của Sở NN&PTNT, tỉnh xem xét nghiên cứu, xây dựng, ban hành nghị quyết mới về miễn, giảm thủy lợi phí để thay thế nghị quyết cũ, trên cơ sở đổi mới công tác quản lý nhà nước về thủy lợi phù hợp với Luật Thủy lợi; hoàn thiện cơ chế đặt hàng dịch vụ thủy lợi theo hướng tính đúng, tính đủ, khoán gọn, thanh quyết toán hợp đồng theo kết quả đầu ra.

Đẩy nhanh việc xây dựng và ban hành định mức kinh tế kỹ thuật quản lý, khai thác công trình thủy lợi để phục vụ quản lý, xây dựng giá dịch vụ thủy lợi; ban hành quyết định quy định điểm giao nhận dịch vụ thủy lợi (cống đầu kênh) theo quy định.

Tăng cường đầu tư hoàn thiện hệ thống công trình thủy lợi theo hướng phục vụ đa mục tiêu, hiện đại hóa, phù hợp với điều kiện biến đổi khí hậu. Đồng thời, sắp xếp, đổi mới các Công ty TNHH MTV thủy lợi 100% vốn nhà nước trên cơ sở giảm đầu mối, tinh gọn, hiệu quả để giảm chi phí và nâng cao hiệu quả sản xuất…

Theo: Nguyễn Khánh

http://baovinhphuc.com.vn/kinh-te/49732/de-chinh-sach-mien-giam-thuy-loi-phi-phu-hop-thuc-te-hon.html

Các tin đã đưa ngày: