Tiêu chuẩn - Rào cản kỹ thuật trong thương mại (TBT)

16/10/2019

Việt Nam gia nhập vào Tổ chức Tiêu chuẩn hóa Quốc tế (ISO) năm 1977, là thành viên thứ 77 của tổ chức này. Hiện nay, Việt Nam là thành viên chính thức của ISO, thành viên liên kết của Ủy ban Kỹ thuật Điện Quốc tế (IEC) và thành viên chính thức của Liên minh Viễn thông Quốc tế (ITU). Với tư cách là thành viên của ba tổ chức này, Việt Nam có quyền và có trách nhiệm tham gia tích cực vào quá trình xây dựng tiêu chuẩn quốc tế để sản phẩm, hàng hóa của Việt Nam có thể vươn ra thị trường thế giới mạnh mẽ hơn. Đồng thời chúng ta cũng cần đẩy mạnh việc xây dựng, áp dụng tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn cơ sở làm nền tảng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và bảo vệ lợi ích chính đáng cho các doanh nghiệp, cũng như người tiêu dùng Việt Nam.

Trong xu hướng tự do hóa thương mại, các nước đã và đang tiến hành giảm và tiến tới loại bỏ nhiều rào cản đối với thương mại. Tuy nhiên, các rào cản phi thuế quan, đặc biệt các là tiêu chuẩn kỹ thuật đang phát triển và được sử dụng như những công cụ hữu hiệu để bảo hộ cho sản xuất trong nước. Hướng tới ngày “Tiêu chuẩn Thế giới 14/10/2019”, Chi cục Tiêu chuẩn đo lường chất lượng Vĩnh Phúc xin phổ biến đến các tổ chức, doanh nghiệp đồng thời đề cao vai trò của tiêu chuẩn thông qua chủ đề “Tiêu chuẩn và rào cản kỹ thuật trong thương mại” như sau:

Tiêu chuẩn kỹ thuật là những quy định về tiêu chuẩn vệ sinh, đo lường, an toàn lao động, bao bì đóng gói, đặc biệt là các tiêu chuẩn như vệ sinh thực phẩm, vệ sinh phòng dịch đối với động thực vật tươi sống… mà một nước áp dụng đối với hàng hoá nhập khẩu nhằm bảo vệ sức khoẻ người tiêu dùng, bảo vệ môi trường, động thực vật và sinh thái...

Theo nghĩa hẹp, TBT chủ yếu lấy qui định kỹ thuật, tiêu chuẩn kỹ thuật và quy trình đánh giá sự phù hợp quy định WTO làm các biện pháp kỹ thuật nòng cốt. Theo nghĩa rộng, TBT bao gồm: Các quy định về tiêu chuẩn chất lượng (Các yêu cầu, qui định đối với sản phẩm; Các thủ tục đánh giá, giám định về chất lượng sản phẩm); Tiêu chuẩn về an toàn cho người sử dụng (Các quy định về nhãn mác, đóng gói, ký hiệu mã sản phẩm, nguồn gốc xuất xứ...); Tiêu chuẩn về lao động và trách nhiệm xã hội (Bộ tiêu chuẩn chung là Bộ SA8000, là công cụ quản lý, giúp các công ty, tổ chức chứng nhận đánh giá điều kiện sản xuất và làm việc; Quy định về bảo vệ môi trường (Hệ thống ISO14001:2000, xem xét vấn đề về bảo vệ môi trường trong sản xuất sản phẩm, tạo sản phẩm xanh, sạch).

Về nguyên tắc, TBT là rất cần thiết, nhằm bảo vệ lợi ích quan trọng liên quan đến sức khỏe người tiêu dùng, môi trường, an ninh xã hội. Tuy nhiên, những qui định này có thể không giống nhau giữa các quốc gia đặc trưng khác nhau của mỗi nước (đặc biệt về điều kiện địa lý, trình độ phát triển, nhu cầu thương mại và tài chính…) cũng như các mục tiêu phát triển khác nhau (bảo vệ lợi ích công cộng, cam kết xã hội, thúc đẩy thương mại…), vì thế nhiều nước đã sử dụng các công cụ này một cách thiên lệch giữa các công ty trong và ngoài nước nhằm hạn chế hàng hoá nhập khẩu của các nước khác không đạt tiêu chuẩn và giảm tính cạnh tranh của hàng nhập khẩu. Theo đó, tiêu chuẩn kỹ thuật bị biến thành công cụ cạnh tranh có lợi cho nước chủ nhà trong quan hệ thương mại quốc tế, vì thế các biện pháp kỹ thuật này còn được gọi với cái tên “các hàng rào kỹ thuật đối với thương mại.

Để một biện pháp kỹ thuật không trở thành hàng rào kỹ thuật không cần thiết cho thương mại quốc tế, theo Hiệp định TBT của WTO, biện pháp đó phải được xây dựng, ban hành và áp dụng trên cơ sở để thực hiện các mục tiêu hợp pháp như bảo vệ sức khoẻ con người, động thực vật, bảo vệ môi trường, ngăn ngừa hành vi gian lận, bảo vệ an ninh quốc gia… và phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế liên quan.

Các cam kết TBT trong các Hiệp định thương mại khu vực mà Việt Nam tham gia gần đây cũng khẳng định vai trò quan trọng của tiêu chuẩn quốc tế vì đây là cơ sở để xây dựng tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật và thủ tục đánh giá sự phù hợp. Hơn thế nữa đây cũng là cơ sở để đánh giá một biện pháp TBT được xây dựng và ban hành có là rào cản kỹ thuật không cần thiết cho thương mại quốc tế hay không.

Theo ông Nguyễn Hoàng Linh, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường chất lượng, đến cuối năm 2017 trong WTO đã có tổng số 485 vụ kiện tranh chấp thương mại trong các lĩnh vực, trong đó có 54 vụ liên quan tới hàng rào kỹ thuật trong thương mại. Tiêu chuẩn quốc tế cũng là một nội dung được Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm của WTO xem xét để đánh giá khả năng biện pháp TBT do một nước thành viên WTO ban hành có phải là rào cản kỹ thuật không cần thiết cho thương mại quốc tế hay không. Nếu tiêu chuẩn dùng làm căn cứ để xây dựng quy chuẩn kỹ thuật và thủ tục đánh giá sự phù hợp được xác định không phải là tiêu chuẩn quốc tế liên quan có nghĩa là quy chuẩn kỹ thuật hoặc quy trình đánh giá sự phù hợp đó có khả năng bị xem là một hàng rào kỹ thuật không cần thiết cho thương mại. Ví dụ, Trong vụ tranh chấp nổi tiếng giữa EU và Peru về cá sardin, việc Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm xác định Tiêu chuẩn Codex 94 của Ủy ban Codex là một tiêu chuẩn quốc tế liên quan đã giúp cho Peru thắng kiện trước EU.

Như vậy, tiêu chuẩn có thể trở thành hàng rào kỹ thuật nếu không được xây dựng theo quá trình chuẩn mực tức là không phù hợp với các nguyên tắc của Hiệp định TBT WTO, không hài hòa với tiêu chuẩn quốc tế liên quan và không phải là tiêu chuẩn theo định nghĩa đã quy định. Trong đó, việc xây dựng tiêu chuẩn cần tuân thủ nguyên tắc của Hiệp định WTO/TBT về Quy chế thực hành tốt trong xây dựng, ban hành và áp dụng tiêu chuẩn để đảm bảo các tiêu chuẩn được xây dựng và công bố không tạo ra rào cản không cần thiết cho thương mại.

Theo ThS.Phan Thị Ái Khoa KT-QTKD Trường Đại học Hà Tĩnh,  Năm 1995, thế giới có khoảng 400 quy định liên quan đến TBT, nhưng giai đoạn 2009-2011, trung bình 1.500 quy định rào cản được đưa ra hàng năm. Năm 2011, TBT các nước đưa ra liên quan đến vấn đề bảo vệ sức khỏe hoặc an toàn con người lên đến 782 quy định, chiếm gần 50% trong số 1.684 quy định được ban hành; Năm 2012 có 1.571 hàng rào kỹ thuật mới thì đến hết năm 2013, các nước thành viên WTO đã xây dựng và ban hành 17.418 quy định mang tính hàng rào kỹ thuật thương mại và số lượng không ngừng gia tăng trong các năm 2014, 2015. Trong các thành viên của WTO, Hoa Kỳ và EU là 2 nước và khu vực áp dụng các rào cản kỹ thuật nhiều nhất so với các nước khác trên thế giới. Trong đó, mặt hàng thủy sản xuất khẩu được đánh giá là gặp phải nhiều rào cản kỹ thuật nhất vì người tiêu dùng ở các quôc gia này ngày càng quan tâm tới tính bền vững cho môi trường và xã hội. Vì thế, các nước phát triển đã đề ra quá nhiều các quy định, tiêu chuẩn khiến cho thủy sản nước ngoài khó thâm nhập vào thị trường nước mình, dựng lên một hàng rào bảo hộ vô hình đối với sản xuất trong nước. Ngoài Mỹ và EU, Nhật Bản… cũng đang sử dụng ngày càng nhiều các tiêu chuẩn kỹ thuật như một công cụ bảo hộ thương mại. Chính sách bảo hộ nông nghiệp của EU được đánh giá ở mức cao nhất trên thế giới, với nhiều rào cản kỹ thuật như: SPS/TBT, Luật thực phẩm, Luật về chất lượng sản phẩm, giám sát và kiểm tra chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm, Luật bảo hộ sức khỏe người tiêu dùng, kiểm tra chất độc hại và dư lượng kháng sinh… Những rào cản kỹ thuật này đã đẩy các nhà xuất khẩu vào thế bị động và gia tăng chi phí, mất nhiều thời gian để tiếp cận với các thị trường. 

Đối với Việt Nam, xuất khẩu là một trong những động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế nhưng đang gặp phải rào cản lớn từ các tiêu chuẩn kỹ thuật của các nước nhập khẩu. Theo thống kê của Bộ Công thương, rào cản thương mại đối với hàng xuất khẩu Việt Nam áp dụng cho nhiều loại mặt hàng, trong đó chủ yếu tập trung vào các nhóm hàng nông, lâm, thủy sản. Nhiều mặt hàng nông thủy sản xuất khẩu của Việt Nam vấp phải các hàng rào kỹ thuật nghiêm ngặt từ các thị trường nhập khẩu chính như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Mexico... Điển hình như Luật nông nghiệp 2014 của Hoa Kỳ; Các tiêu chuẩn về dư lượng các chất cấm và các chất hạn chế sử dụng trong thủy sản của EU…  Trong bốn tháng đầu năm 2015, cả nước đã có 36 lô tôm xuất khẩu bị ba thị trường nhập khẩu chính là Mỹ, EU và Nhật Bản trả về do có chứa chất cấm (hóa chất, kháng sinh), bằng 40% so với con số của cả năm 2014. Riêng thị trường Mỹ trả về 25 lô, bằng hơn 50% so với cả năm 2014. Về các mặt hàng nông sản, Ủy ban châu Âu và Nhật Bản cũng đã nhiều lần đưa ra các cảnh báo đối với các mặt hàng rau, củ quả của Việt Nam, điển hình là mặt hàng tiêu, thanh long, mướp đắng, gạo, .. thậm chí gỗ làm bao bì đóng hàng xuất khẩu cũng vi phạm các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm. Điều này đã làm uy tín của nông sản, hàng hóa của Việt Nam trên thị trường quốc tế sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Trong xu hướng chung của tự do thương mại khi thuế suất thuế nhập khẩu bằng 0, xuất khẩu của Việt Nam trong các năm tiếp theo sẽ gặp phải nhiều khó khăn do các nước dựa trên sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ, sẽ sử dụng ngày càng nhiều hàng rào kỹ thuật để bảo vệ sản xuất trong nước trước sự cạnh tranh của hàng nhập khẩu. Như vậy, những hàng rào kỹ thuật là rất nhiều và sẽ còn nhiều nữa trong tương lai. Để đáp ứng các quy định  này, các tổ chức, doanh nghiệp phải nắm chắc các quy định này để từ đó quan tâm chất lượng sản phẩm và vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, xây dựng được thương hiệu và uy tín, năng lực cạnh tranh cho các sản phẩm hàng hóa phục vụ trong nước và xuất khẩu.

                                                                       Phạm Thị Mai Chinh

                                                           Chi cục Tiêu chuẩn đo lường chất lượng

Các tin đã đưa ngày: