Nghiên cứu đưa giống lúa LTh31 ngắn ngày, năng suất và chất lượng vào cơ cấu giống của tỉnh

15/11/2021

Đối với nước ta, nông nghiệp được coi là mặt trận hàng đầu, trong đó sản xuất lương thực, nhất là sản xuất lúa đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Nông nghiệp cung cấp lương thực cho toàn bộ dân cư, đồng thời cung cấp thức ăn cho ngành chăn nuôi, cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến thực phẩm.

Sản phẩm của ngành nông nghiệp là sản phẩm không thể thay thế, trong đó cây trồng và vật nuôi là hai đối tượng chủ yếu của ngành, gắn liền với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và chịu tác động bởi nhiều yếu tố ngoại cảm. Trước những áp lực về dân số ngày càng gia tăng, diện tích canh tác lúa ngày càng thu hẹp do ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa, nhu cầu về lương thực ngày càng tăng cao, nhất là các nước châu Á có tập quán sử dụng gạo trong cơ cấu bữa ăn. Hiện nay các nước trên thế giới xem an ninh lương thực là vấn đề cấp thiết để đảm bảo sự phát triển kinh tế - xã hội.

Vĩnh Phúc là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, có đặc điểm địa lý đặc thù với 3 vùng địa hình phân biệt. Trong những năm qua, Vĩnh Phúc đã áp dụng nhiều biện pháp kỹ thuật mới và phương thức canh tác tiên tiến, đẩy mạnh cơ giới hóa, việc đưa các giống lúa mới có năng suất cao, chất lượng gạo tốt vào sản xuất không ngừng được cải thiện. Kết quả nghiên cứu áp dụng các giống mới tại Vĩnh Phúc đã đạt được kết quả cao, nhiều bộ giống lúa thuần mới đã được khẳng định và nhân rộng, ngoài giống Khang dân 18, Bắc thơm số 7, có một số giống đã chiếm tỷ lệ diện tích đáng kể như BT7 kháng bạc lá, Thiên ưu 8, Đài Thơm 8, BC15, TBR225… Nhằm góp phần đáp ứng nhu cầu về giống lúa chất lượng cũng như nâng cao thu nhập cho nông dân trồng lúa trong toàn tỉnh, Công ty cổ phần giống Cây lương thực và Cây thực phẩm thực hiện đề tài: “Nghiên cứu, xây dựng mô hình sản xuất giống lúa LTh31 ngắn ngày, năng suất và chất lượng tại tỉnh Vĩnh Phúc”.

Mô hình sản xuất giống lúa LTh31 được xây dựng theo phương pháp ô thửa lớn, quy mô sào/hộ, và quy mô 10-20 ha/điểm. Phương pháp chọn hộ có quy mô 2-3 sào, địa điểm để triển khai mô hình tại Huyện Bình Xuyên (Xã Phú Xuân), Huyện Vĩnh Tường (Xã Thượng Trưng) và Huyện Sông Lô (Xã Đồng Thịnh, Đồng Quế và Xã Đức Bác). Các hộ nông dân được chọn tham gia đề tài đều có ruộng đất thực hiện mô hình trình diễn phù hợp với nội dung, quy trình kỹ thuật; Có kinh nghiệm trong sản xuất lúa.

Vụ mùa năm 2018, đề tài đã xây dựng được 2 mô hình sản xuất hạt giống tại xã Thượng Trưng, huyện Vĩnh Tường với quy mô 10ha và xã Phú Xuân, huyện Bình Xuyên với quy mô 20ha. Vụ xuân năm 2019, đề tài đã xây dựng được 3 mô hình sản xuất hạt giống tại xã Thượng Trưng, huyện Vĩnh Tường với quy mô 10ha (vụ xuân) và xã Phú Xuân, huyện Bình Xuyên với quy mô 20ha (10ha vụ xuân, 10ha vụ mùa). Qua 2 năm, đề tài đã sản xuất được 355 tấn giống, trong đó gồm 120 tấn hạt giống cấp nguyên chủng và 235 tấn hạt giống cấp xác nhận. Các chỉ tiêu: độ sạch, hạt khác giống có thể phân biệt được, tỉ lệ nảy mầm, độ ẩm phù hợp so với quy chuẩn kỹ thuật số QCVN 01-54:2011/BNNPTNT.

Đánh giá một số đặc điểm nông sinh học của giống lúa LTh31 tại Vĩnh Phúc cho thấy, giống lúa LTh31 có thời gian sinh trưởng ngắn (130 - 135 ngày trong vụ Xuân, 105 - 110 ngày trong vụ Mùa). Chiều cao cây trung bình 103,2-113 cm. Dạng hình cây gọn đẹp, lá xanh. Tỷ lệ lép: 12,5-20,1%. Khả năng đẻ nhánh khá (5-8 dảnh hữu hiệu/khóm). Số hạt/bông đạt 152 -183 hạt/ bông và khối lượng 1000 hạt (24-25 g). Mức độ nhiễm một số sâu bệnh hại chính, khả năng chịu rét và chống đổ của giống lúa LTh31 tại Vĩnh Phúc có mức độ nhiễm sâu bệnh hại thấp (điểm 0-3), tương đương KD18. Tuy nhiên giống đối chứng KD18 bị nhiễm khô vằn cao hơn LTh31 tại đa số các vụ. Khả năng chịu rét và chống đổ cũng được đánh giá tương đương và tốt hơn so với giống đối chứng Khang dân 18.

Tại các điểm thực hiện mô hình, trong vụ Xuân 2019, tại các điểm thực hiện mô hình, giống lúa LTh31 đạt 274-288 bông/m2, 152-172 hạt/bông, 12,6- 13,7% tỷ lệ lép, 24,1-24,4 gram khối lượng 1000 hạt. Năng suất thực thu của giống lúa LTh31 đạt được trung bình từ 65,32-68,11 tạ/ha cao hơn so với giống đối chứng Khang dân 18 (đạt năng suất từ 55,26-57,34 tạ/ha) từ 15,4-18,78%.

Trong vụ mùa tại các điểm thực hiện mô hình, giống lúa LTh31 đạt 244 -275 bông/m2, 159-170 hạt/bông, 17,8-20,1% tỷ lệ lép, 24,3-24,8 gram khối lượng 1000 hạt. Năng suất thực thu của giống lúa LTh31 tại các điểm thực hiện mô hình đạt cao hơn so với đối chứng Khang dân 18 qua các năm, cụ thể: Năm 2018, năng suất của LTh31 đạt 60,27 tạ/ha vượt đối chứng Khang dân 18 (đạt năng suất 52,34tạ/ha). Năm 2019, năng suất của LTh31 đạt 58,39 tạ/ha vượt đối chứng Khang dân 18 (đạt năng suất 49,92 tạ/ha). Năm 2020, năng suất của LTh31 đạt từ 56,47-61,37tạ/ha vượt đối chứng Khang dân 18 (đạt năng suất từ 46,01 - 49,98 tạ/ha).

Qua tính toán hiệu quả kinh tế trong mô hình sản xuất giống lúa LTh31 so với giống đối chứng Khang dân 18 trong cả 3 năm cho thấy, canh tác giống lúa LTh31 đạt hiệu quả kinh tế tăng từ 46-152%  so với giống lúa đối chứng Khang dân 18.

 Giống LTH31 có khả năng chống đổ tốt, chịu thâm canh, tiềm năng năng suất cao; gạo có mùi thơm, cơm mềm; các chỉ số sâu bệnh hại (đặc biệt là bệnh đạo ôn) tốt hơn so với đối chứng. Hiện nay, giống LTh31 đã được công nhận giống quốc gia theo quyết định số 2645/QĐ-BNN-TT ngày 05 tháng 07 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Giống lúa LTh31 ngắn ngày, năng suất và chất lượng cao được đông đảo người dân tham gia mô hình đánh giá cao về năng suất cũng như chất lượng, nên cần được mở rộng diện tích trong các vụ tiếp theo, đề nghị Sở NN&PTNT tỉnh Vĩnh Phúc đưa giống lúa LTh31 vào cơ cấu giống của tỉnh nhằm mở rộng diện tích trong các vụ tiếp theo.

BT. Thu Huyên

 

Các tin đã đưa ngày: