Nâng cao hiệu quả việc bảo tồn và khai thác các nguồn gen quý, hiếm trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

30/08/2021

Vĩnh Phúc nằm trong khu vực châu thổ đồng bằng sông Hồng. Do đặc điểm địa lý và quá trình phát triển lâu dài, nơi đây hình thành 3 vùng sinh thái rõ rệt: Đồng bằng, trung du và miền núi. Đặc điểm địa hình và khí hậu đa dạng làm cho Vĩnh Phúc trở thành một trong những tỉnh có tính đa dạng sinh học cao của nước ta thể hiện ở sự phân hóa và độc đáo của các hệ sinh thái trên cạn, hệ sinh thái đất ngập nước và các bậc phân loại, trong đó có bậc loài.

Ảnh minh họa

Khu hệ động, thực vật tỉnh Vĩnh Phúc có khoảng 3.236 loài (không kể một số nhóm động vật đất chưa xác định đến loài), bao gồm: 1.568 loài thực vật, 78 loài thú, 287 loài chim, 55 loài bò sát, 34 loài lưỡng cư, 139 loài cá, 71 loài động vật nổi và động vật đáy, 815 loài côn trùng và nhện, 15 loài mối, 101 loài bọ nhảy Collembola, 88 loài ve giáp. Trong đó, số lượng loài quý hiếm bị đe dọa là 508 loài (thực vật: 434 loài, động vật: 74 loài), chiếm 15,7 % tổng số loài hiện có.

Trong những năm qua, nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo tồn và lưu giữ các nguồn gen sinh vật bao gồm những loài cây, con đặc sản, đặc hữu quý hiếm, các loài đang bị đe dọa tuyệt chủng, Nhà nước ta đã ban hành Luật Đa dạng sinh học năm 2008; Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1671/QĐ-TTg ngày 28/9/2015 về việc phê duyệt Chương trình bảo tồn và sử dụng bền vững nguồn gen đến năm 2025, định hướng đến năm 2030; tỉnh Vĩnh Phúc đã ban hành một số cơ chế, chính sách, quy định trong quản lý và thực hiện một số nhiệm vụ nghiên cứu nhằm bảo vệ tính đa dạng sinh học, bảo tồn và khai thác, sử dụng các loài, nguồn gen bản địa, có giá trị như: Quyết định số 116/QĐ-CT ngày 14/01/2014 phê duyệt Kế hoạch hành động đa dạng sinh học tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2015, định hướng đến năm 2020; Quyết định số 335/QĐ-UBND, ngày 25/01/2014 phê duyệt Đề án bảo vệ môi trường Vĩnh Phúc giai đoạn 2011-2020; Quyết định số 38/2012/QĐ-UBND, ngày 25/10/2012, Quy định thực hiện cơ chế đầu tư, hỗ trợ phát triển giống cây trồng, vật nuôi trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2012-2015;…

Tuy nhiên, các nguồn gen quý, hiếm đang bị đe dọa đã được bảo tồn, khai thác phát triển còn ít so với số lượng các nguồn gen đã được xác định cần được bảo tồn, khai thác. Bối cảnh toàn cầu đặt ra những thách thức và những cơ hội mới: Một mặt, mức độ biến đổi khí hậu trở nên nghiêm trọng hơn và ngày càng tác động tiêu cực đến tài nguyên di truyền; nhận thức của người dân về bảo tồn các loại động, thực vật quý hiếm còn hạn chế; cơ sở hạ tầng, trang thiết bị phục vụ nghiên cứu, lưu giữ và bảo nguồn gen trên địa bàn tỉnh còn hạn chế, chưa đồng bộ, ảnh hưởng đến hiệu quả và chất lượng công tác bảo tồn và khai thác nguồn gen.

Để đẩy mạnh công tác bảo tồn, khai thác, sử dụng hiệu quả nguồn gen có giá trị ở tỉnh Vĩnh Phúc và thực hiện chủ trương của Bộ Khoa học và Công nghệ về nhiệm vụ quỹ gen, việc xây dựng Đề án khung các nhiệm vụ bảo tồn nguồn gen cấp tỉnh Vĩnh Phúc, giai đoạn 2021-2025 là thực sự cần thiết.

Đề án là căn cứ để xây dựng và lựa chọn các nhiệm vụ quỹ gen cho kế hoạch hàng năm nhằm bảo tồn, phát triển bền vững nguồn nguồn gen, nguồn tài nguyên đặc sản, quý hiếm của Vĩnh Phúc.

Qua rà soát, đánh giá giai đoạn 2013-2020 cho thấy, thông qua các dự án, nhiệm vụ khoa học, nhiệm vụ theo chức năng, việc bảo tồn và phát triển các nguồn gen trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc được một số cơ quan, đơn vị triển khai thực hiện trên một số đối tượng nguồn gen động, thực vật (cây, con, vi sinh vật) được nghiên cứu bảo tồn hoặc được doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân tiếp nhận phát triển, bước đầu hình thành sản phẩm đặc trưng của tỉnh hoặc lưu thông trên thị trường như: Cây nông nghiệp (Dưa chuột nhắt Tam Dương, Dứa Hướng Đạo, Susu Tam Đảo, Nho rừng Tam Đảo, Bưởi Diễn, Lúa, Đậu Đỗ, Cà chua, Khoai tây...); cây lâm nghiệp và dược liệu (Bạch đàn, Thông, Keo tai tượng, Dó trầm, Nhội; Thẩu tấu, Tre, Bổ béo đen, Vù hương, Lá Khôi, Trà hoa vàng Tam Đảo, Sâm Ngọc Linh, Hoàng đằng, Hoa tiên, Củ Dòm, Hoàng tinh hoa trắng, Bạch chỉ, Đinh lăng, Mạch môn, Ngưu tất, Đương quy, Ba kích, Đinh lăng, Nhân trần, Ích mẫu, Diệp hạ châu, Húng quế, Cúc hoa vàng, Gừng, Nghệ, Lan dược liệu, Lan đai trâu, Tam bảo sắc, Lan vũ nữ, Lô hội, Trinh nữ hoàng cung, Dây thìa canh, Sâm cau, Giảo cổ lam, Kim ngân hoa ,...); con (Trâu, Bò, Lợn rừng, Gà, Ong, Cò Hải Lựu, Cá cóc Tam Đảo, Rắn Vĩnh Sơn.); vi sinh vật: Vi khuẩn Lactobacillus, Bacillus, Rhodopseudomonas sp, Nấm mốc Trichoderma sp, Xạ khuẩn Streptomyces sp, Nấm men Saccharomyces sp.

Một số nhiệm vụ khoa học điển hình, có giá trị bảo tồn các loài gen quý hiếm như: Bảo tồn và phát triển cây dược liệu quý hiếm Trà hoa vàng trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, đã thu thập được 14 loài Trà hoa vàng có nhiều xuất xứ (nơi thu thập khác nhau như; Tamdaoensis, Euphlebia, Hakodae, Tienii, Phanii, Risoma Peteloti, Yên Bái, Hakoda Định Hóa...), trong đó có 1 loài “Kim hoa trà” từ Trung Quốc và 1 loài Trà Cúc Phương, với tổng cộng 270 cá thể bố mẹ; đã có hơn 30.000 cây Trà hoa vàng thuộc 14 loài được trồng sinh trưởng và phát triển tốt trên diện tích 15ha tại xã Ngọc Thanh, Thành phố Phúc Yên; Bảo tồn nguồn gen cây thuốc quí Bổ béo đen (Goniothalamus vietnamensis Ban) Vù hương (Cinnamomum parthenoxynon (Jack Meisn) và lá Khôi (Ardisia Silverstris Pitard), Hoa tiên (Asarum glabrum), Hoàng tinh hoa trắng (Disporopsis longifolia), Củ dòm (Stephania dielsiana)... tại Vườn Quốc gia Tam Đảo, đã sản xuất, nhân giống được 6.000 cây giống Hoa tiên, Hoàng tinh hoa trắng và Củ Dòm, 2.900 cây Bổ béo đen, 2.300 cây Vù hương, 2.900 cây lá khôi; Bảo tồn và phát triển đàn ong mật, tạo ra được gần 1.900 đàn ong giống mới, thu hoạch được hơn 1,7 tấn sữa ong chúa, gần 70.000 tấn mật ong, gần 5,0 tấn phấn hoa và hơn 2,0 tấn sáp ong các loại; Bảo tồn Vườn Cò Hải Lựu, tại thôn Dừa Lẽ, xã Hải Lựu, huyện Sông Lô, đã góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học, các loài gen quý hiếm của tỉnh; Bảo tồn và phát triển loài Cá Cóc Tam Đảo. Cá Cóc Tam Đảo được ghi nhận là một trong 5 loài cá Cóc Việt Nam được chính phủ xếp vào nhóm 1B (những loài cần bảo vệ đặc biệt, cấm hoàn toàn việc khai thác), với số lượng còn lại rất ít và đang có nguy cơ tuyệt chủng, qua đề tài đã xây dựng mô hình nuôi cá Cóc Tam Đảo trong môi trường nhân tạo và thả các cá thể Cá Cóc Tam Đảo nuôi bán tự nhiên về môi trường sống tự nhiên....

Ngoài ra, theo Báo cáo tổng hợp rà soát, thống kê các loài, nguồn gen bản địa quý hiếm có giá trị kinh tế cao cần được ưu tiên bảo tồn và phát triển trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc năm 2018 cho thấy, tổng diện tích dược liệu trên địa bàn huyện Tam Đảo hiện đạt khoảng 45ha, với các loại chủ yếu: Ba kích, Đinh lăng, Trà hoa vàng,... có mặt ở hầu hết các xã trong huyện, song nhiều nhất là 3 xã Đạo Trù, Đại Đình, Tam Quan. Toàn huyện có khoảng 5-7 vườn dược liệu/20 vườn ươm giống cây các loại, gồm những dược liệu quý như: Hà thủ ô đỏ, Ba kích, Hoài sơn, Cát xâm, Khôi tía (Khôi nhung), Kim tuyến, Trà hoa vàng các loại; Bên cạnh đó, về công tác quản lý bảo vệ rừng nhằm bảo tồn nguồn gen, do UBND tỉnh đã ban hành nhiều văn bản cụ thể hóa nội dung quản lý bảo vệ rừng, xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng, quản lý lâm sản và có 30 người dưới sự quản lý của UBND các xã, thị trấn có rừng Quốc gia đã phối hợp với Kiểm lâm Vườn quốc gia Tam Đảo tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia bảo vệ rừng, thường xuyên tuần tra truy quét trên rừng nên tình trạng săn bắt và buôn bán động vật hoang dã đã giảm đi nhiều, hiện tượng săn bắt và buôn bán động vật hoang dã chỉ tập trung vào các loài thú nhỏ, các loài ếch nhái, bò sát và côn trùng và không còn người vào rừng Tam Đảo để khai thác lâm sản. Hiện nay, Ban quản lý Vườn quốc gia Tam Đảo vẫn duy trì hoạt động Trung tâm cứu hộ gấu tại Vườn quốc gia để góp phần cứu hộ những cá thể gấu bị săn bắt và nuôi giữ trái phép ở Việt Nam.

Các nguồn gen được lựa chọn vào danh mục bảo tồn cần có các tiêu chí sau: Cây trồng nông-lâm nghiệp, cây dược liệu, thủy sản quý hiếm, đặc hữu; Có giá, có thị trường, hoặc có tiềm năng để khai thác phát triển thành sản phẩm hàng hóa, đặc sản của địa phương; Một số loài hoang dã có quan hệ gần với cây trồng, thủy sản, có những đặc tính tốt, có thể phát triển thành đối tượng nuôi hoặc phục vụ công tác lai tạo, chọn giống; Một số nguồn gen đã được khai thác phát triển nhưng qua thời gian đã có dấu hiệu thoái hóa, suy giảm chất lượng, năng suất cần được bảo tồn, phục tráng lại; …

Mặc dù, nhu cầu về nguồn gen cần được bảo tồn của tỉnh Vĩnh Phúc là rất lớn, nhưng trong giai đoạn 2021-2025 các cơ quan quản lý, đơn vị nghiên cứu có liên quan ở trong và ngoài tỉnh đã rà soát, thống nhất đề xuất lựa chọn các đối tượng nguồn gen có tính cấp thiết, nguy cấp, đang bị đe dọa tuyệt chủng, chưa được bảo tồn, có trong sách đỏ hoặc quy định hiện hành để đưa vào danh mục bảo tồn, khai thác nhằm đảm bảo mục tiêu của công tác bảo tồn. Các nguồn gen được đề xuất tập trung chủ yếu vào các giống cây trồng, thủy sản bản địa quý hiếm, có giá trị kinh tế cao.

Việc bảo tồn nguồn gen có ý nghĩa: Kiểm kê được tình hình phân bố của các nguồn gen cây trồng, thủy sản trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc; Đánh giá được mức độ đe dọa của các giống, loài bản địa đặc hữu, quý hiếm làm để thu thập cho lưu giữ và đề xuất phương án bảo tồn hiệu quả nguồn gen; Lưu giữ, bảo quản an toàn và nguyên trạng được nguồn gen hiện có của tỉnh bằng sự kết hợp hài hòa cả 2 hình thức chuyển chỗ và tại chỗ; Khai thác và phát triển nhanh mạnh các nguồn gen thành sản phẩm thương mại, sản phẩm chủ lực của địa phương, tạo dựng OCOP, phát triển nguồn gen thành những nguồn cho sản phẩm chủ lực, sản phẩm quốc gia; Tăng cường năng lực, nâng cao nhận thức trong công tác bảo tồn nguồn gen; khung pháp lý về bảo tồn nguồn gen được hoàn thiện.

Nâng cao hiệu quả việc bảo tồn và khai thác các nguồn gen quý, hiếm trên địa bàn tỉnh, các ngành chức năng cần tiếp tục điều tra, khảo sát, đánh giá hiện trạng mức độ đe dọa của các nguồn gen đặc hữu, có giá trị kinh tế cao và các nguồn gen mới, đề xuất đưa vào danh mục cần bảo tồn của tỉnh.

Thu Huyên

 

Các tin đã đưa ngày: