60 năm ngành khoa học và công nghệ Vĩnh Phúc

06/01/2020

Cách đây tròn 60 năm, ngày 04/3/1959 thừa uỷ quyền của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thủ tướng Chính phủ đã ký sắc lệnh số 016/SL thành lập Uỷ ban khoa học nhà nước, cơ quan Trung ương quản lý nhà nước đầu tiên về công tác khoa học và công nghệ của nước ta. Sắc lệnh này đã mở đầu một giai đoạn phát triển vượt bậc của nền khoa học Việt Nam.

Từ năm 1959 đến năm 1965 Uỷ ban hành chính tỉnh ra quyết định thành lập Ban kỹ thuật tỉnh. Sau đó để phù hợp với nhiệm vụ Cách mạng từ năm 1966 đến năm 1972 đổi tên là Ban khoa học kỹ thuật trực thuộc UBND tỉnh. Từ năm 1972 đến năm 1992 chuyển thành Uỷ ban khoa học và kỹ thuật thuộc UBND tỉnh. Sau khi Bộ KHCN&MT ra đời từ năm 1993 đến năm 1996 Uỷ ban khoa học kỹ thuật Vĩnh Phú đổi thành Sở Khoa học công nghệ và Môi trường Vĩnh Phú.

Sau khi tái lập tỉnh Vĩnh Phúc, Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường Vĩnh Phúc ra đời theo quyết định số 13/QĐ-UB  ngày 13/1/1997 của  UBND tỉnh . Để phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của công tác KHCN và công tác BVMT, ngày 18/9/2003 UBND tỉnh ra quyết định số 3498/QĐ-UB về việc thành lập Sở Khoa học và Công nghệ Vĩnh Phúc, nhiệm vụ bảo vệ môi trường được tách, chuyển sang Sở Tài nguyên và Môi trường; Quyết định số 59/2008/QĐ-UBND ngày 13/11/2008; Quyết định số 27/2016/QĐ-UBND ngày 11/05/2016 của UBND tỉnh Vĩnh Phúc Quy định vị trí chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Khoa học và công nghệ tỉnh Vĩnh  Phúc.

60 năm qua, đặc biệt từ sau khi tái lập tỉnh Vĩnh Phúc năm 1997 đến nay, hoạt động KH&CN Vĩnh Phúc đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Ngành KH&CN đã làm tốt chức năng tham mưu tư vấn với Tỉnh uỷ, HĐND & UBND tỉnh ban hành nhiều cơ chế chính sách, Chỉ thị, Nghị quyết về KH&CN. Đề án 01/NQ-TU ngày 4/3/1998 của Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc về phát triển KHCN&MT đến năm 2000. Nghị quyết 13/NQ-TU ngày 03/12/2002 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ và Đề án số 2097/ĐA-UB ngày 19/11/2002 của UBND tỉnh về phát triển KHCN&MT đến năm 2010; Xây dựng chiến lược KH&CN Vĩnh Phúc, bảo vệ môi trường; Đánh giá tiềm lực KH&CN tỉnh giai đoạn 1997-2003 và 2003-2008; Kết luận số 03-KL/TU ngày 7/11/2006 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về Chương trình phát triển và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá giai đoạn 2006-2010 và định hướng đến năm 2020; Kết luận số 01-KL/TU ngày 15/3/2011 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về thực hiện Nghị quyết 13-NQ/TU ngày 03/12/2002 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về phát triển khoa học - công nghệ và môi trường đến năm 2010 và định hướng phát triển khoa học - công nghệ trong thời gian tới; Chương trình hành động số 42-CTr/TU ngày 31/01/2013 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc "Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế"… Đặc biệt từ năm 2003 đến 2019, UBND tỉnh đã phê duyệt 1.143 lượt đề tài với tổng kinh phí 242.017 triệu đồng, đã triển khai nhân rộng 175 mô hình KH&CN. Triển khai 21 dự án cấp Bộ thuộc Chương trình Xây dựng các mô hình ứng dụng khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi (gọi tắt là Chương trình Nông thôn, miền núi) giai đoạn 2006 - 2019 với tổng kinh phí 154.839,7 triệu đồng, trong đó: NSTW hỗ trợ 45.460,0 triệu, NSĐP: 1.276,7 triệu, kinh phí của doanh nghiệp, người dân: 98.851,0 triệu đồng, từ đó đã góp phần phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Trong những năm qua, các tiến bộ kỹ thuật được ứng dụng rộng khắp ở các lĩnh vực. Qua nghiên cứu, đánh giá cho thấy tỷ lệ ứng dụng các kết quả của đề tài nghiên cứu vào thực tế sau khi kết thúc trên địa bàn tỉnh đạt trên 70%.

Nổi bật trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp, thuỷ sản: Đã đóng góp tích cực trong việc thúc đẩy phát triển sản xuất và xây dựng nông thôn mới, theo tinh thần Nghị Quyết 03 NQ/TU ngày 27/12/2006 của Ban Chấp hành Đảng bộ Tỉnh khoá XIV về phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống nhân dân. Các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới về nông, lâm nghiệp được áp dụng kịp thời và phù hợp vào điều kiện thực tiễn sản xuất ở một số địa phương, từng bước đã làm thay đổi nhận thức trong vấn đề thâm canh tăng năng suất và thực hiện việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi hợp lý; góp phần làm tăng năng suất, sản lượng và chất lượng ở một số mặt hàng nông sản, thúc đẩy sản xuất phát triển và đem lại hiệu quả kinh tế cho người dân lao động.

Kết quả nghiên cứu của các công trình thuộc lĩnh vực khoa học-xã hội và nhân văn đã làm cơ sở, luận cứ khoa học cho việc ban hành các chủ trương, chính sách của Đảng bộ, chính quyền các cấp; góp phần giữ gìn ổn định trật tự an ninh, phát triển văn hoá, xã hội. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu còn được biên tập và in thành sách, nhằm quảng bá mảnh đất và con người Vĩnh Phúc...

Trong lĩnh vực công nghiệp, đã ứng dụng công nghệ mới, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, đã làm tăng năng suất, chất lượng sản phẩm công nghiệp, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh. Các đề tài thuộc lĩnh vực y tế đã đáp ứng được yêu cầu tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật mới; giảm chi phí cho người bệnh, bảo vệ và nâng cao sức khoẻ cộng đồng. Trong lĩnh vực ứng dụng công nghệ cao, các công trình nghiên cứu đã tiếp cận đầy đủ công nghệ cao, công nghệ thông tin, thiết thực giải quyết những vấn đề của đời sống, sản xuất, nhiều phần mềm ứng dụng được triển khai, nhằm tiến tới xây dựng nền hành chính điện tử và góp phần nâng cao tư duy công nghệ mới cho cán bộ làm công tác quản lý, kinh doanh trên địa bàn.

Trong các lĩnh vực phát triển đô thị, dịch vụ, du lịch, sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường của Tỉnh, nhiều đề tài được thực hiện mang lại những hiệu quả cao về kinh tế, kỹ thuật và môi trường, góp phần tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá tỉnh ta.

Hiệu quả trực tiếp, lớn nhất mà hoạt động nghiên cứu đạt được đó là đã tạo nên một phong trào nghiên cứu khoa học sâu rộng trong mọi cấp, mọi ngành. Nhờ đó mà trình độ tổng hợp, phương pháp tư duy khoa học của một số lượng lớn cán bộ, nhân viên trong những năm qua đã được nâng lên. Số lượng nông dân được tập huấn, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật lên tới hàng chục nghìn người, đây là lực lượng quan trọng nhằm tiếp thu công nghệ và trực tiếp triển khai các kỹ thuật tiến bộ vào cuộc sống. So với các tỉnh lân cận thì hoạt động nghiên cứu khoa học của Vĩnh Phúc luôn đứng ở vị trí nhóm đầu của các tỉnh vùng đồng bằng Sông Hồng về số lượng đề tài được triển khai nghiên cứu.

Công tác thông tin tuyên truyền có nhiều cố gắng, mỗi năm biên tập, cập nhật trên 3.000 tin, bài lên Cổng thông tin điện tử của Sở; trên 600 tin bài trên trang Hỏi đáp khoa học kỹ thuật; xây dựng các module, banner, khẩu hiệu tuyên truyền các ngày lễ lớn trong năm; phát hành trung bình 5 số Bản tin KH&CN/năm. Mỗi năm xây dựng hàng chục video, phóng sự tuyên truyền hoạt động KH&CN. Đến nay Hệ thống thông tin KHCN có số lượng lượt người truy cập nhiều nhất trong tỉnh.

Năm 2017 đã đưa vào hoạt động Sàn giao dịch công nghệ và thiết bị trực tuyến tỉnh Vĩnh Phúc: Hiện nay, tổng số doanh nghiệp tham gia trực tiếp trên sàn và liên kết với các sàn khác là 2.127 doanh nghiệp với 3.751 sản phẩm chào bán, 410 sản phẩm tìm mua. Trong 03 năm hoạt động, đã có 5.480 lượt người truy cập vào trang Vptex.vn để tìm kiếm các sản phẩm, dây chuyền thiết bị trên Sàn. Có thể thấy, Sàn bước đầu đã đem lại hiệu quả thiết thực cho các đơn vị, doanh nghiệp, giúp giảm chi phí giao dịch và kết nối tốt hơn cung, cầu về công nghệ, thiết bị giữa doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.

Hướng dẫn các đơn vị đăng ký hoạt động KH&CN, chuyển dần sang cơ chế gắn thu bù chi; tăng cường công tác thẩm định công nghệ các dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh. Công tác quản lý an toàn bức xạ hạt nhân đã được chú trọng, nhất là việc quản lý và cấp phép sử dụng thiết bị X-quang trong y tế.

Công tác sở hữu trí tuệ (SHTT) bước đầu nắm bắt yêu cầu của các doanh nghiệp và cá nhân về SHTT, làm cầu nối giữa sản xuất trong tỉnh với cục SHTT để giải quyết các tranh chấp và vi phạm về SHTT. Quản lý hơn 5.000 tư liệu về SHTT, 925 nhãn hiệu hàng hoá trong tỉnh. Hướng dẫn, cung cấp, tra cứu thông tin, cho 732 lượt đơn vị, cá nhân, cơ quan thực thi quyền về sở hữu công nghiệp. Tham mưu cho Hội đồng sáng kiến cấp tỉnh xét và Quyết định công nhận cho 1.151 sáng kiến cấp tỉnh thuộc lĩnh vực kinh tế-xã hội, giáo dục-đào tạo.

Công tác Tiêu chuẩn đo lường chất lượng (TC - ĐL - CL) đã đi vào nề nếp. Khuyến khích nhiều doanh nghiệp áp dụng các tiêu chuẩn chất lượng tiên tiến. Đã quản lý được trên 80% cơ sở sản xuất về tiêu chuẩn, chất lượng. Hàng năm đã tổ chức kiểm định định kỳ được trên 200.000 phương tiện đo (PTĐ) cho các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh. Đã hướng dẫn 588 doanh nghiệp công bố tiêu chuẩn chất lượng, phổ biến 349 tiêu chuẩn Việt Nam. Tổ chức tốt giải thưởng chất lượng Việt Nam, hàng năm có từ 5 ¸ 7 doanh nghiệp tham gia và được giải thưởng chất lượng Việt Nam.

Hoạt động của hệ thống hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT) được duy trì thường xuyên; thực hiện tốt mối quan hệ, trao đổi thông tin giữa bộ phận TBT của tỉnh với văn phòng TBT Việt Nam.

Công tác thanh tra KH&CN được tiến hành thường xuyên, thanh tra 1.278 lượt cơ sở sản xuất, kinh doanh có 159 lượt cơ sở vi phạm, chiếm 13,7%. Xử phạt hành chính, đình chỉ lưu thông nhiều loại hàng hoá vi phạm. Đã giải quyết kịp thời các đơn thư khiếu nại, tố cáo về KH&CN.

Công tác ứng dụng và chuyển giao công nghệ có nhiều cố gắng. Hàng năm chuyển giao trung bình từ 6-8 tiến bộ kỹ thuật cho các ngành trong tỉnh, tập trung vào các lĩnh vực như: Nông, lâm nghiệp, bảo vệ môi trường. Trong những năm qua  tổ chức tập huấn cho hơn 52 ngàn lượt người dân cách thực hiện các mô hình KH&CN trên đồng  ruộng; Duy trì công nghệ nhân giống một số cây trồng bằng nuôi cấy mô, lưu giữ một số chủng giống vi sinh vật, thử nghiệm giống chuối già Nam Mỹ; sản xuất thử nghiệm giá thể cho mạ khay cấy máy, một số mô hình tiêu biểu như: mô hình nấm dược liệu Vân Chi, mô hình trồng cây dược liệu Sacha Inchi, mô hình trồng nấm, thử nghiệm tách triết sản phẩm dạng nano từ nấm Đông trùng hạ thảo, Trà hoa vàng Tam Đảo đã được triển khai ứng dụng thành công mang lại hiệu quả kinh tế cao.

Thông qua các dự án đầu tư tiềm lực KHCN (cơ sở vật chất, trang thiết bị) của các cơ quan, đơn vị, tổ chức KH&CN trên địa bàn tỉnh được tăng cường, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trên các lĩnh vực. Nhờ được đầu tư trang thiết bị cho nên: hoạt động dịch vụ trong lĩnh vực KH&CN (tiêu chuẩn đo lường chất lượng, ứng dụng, chuyển giao công nghệ...) ngày càng tăng, đáp ứng nhu cầu kiểm định, hiệu chuẩn các phương triện đo cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh.

Ghi nhận những đóng góp và thành tích trên, ngành KH&CN Vĩnh Phúc 2 lần được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen (năm 2004 và 2007), năm 2009 được Chủ tịch nước tặng Huân chương lao động hạng ba, nhiều năm liền được UBND tỉnh tặng Bằng khen. Đó là phần thưởng cao quý của Đảng và Nhà nước, và là niềm vinh dự to lớn của cán bộ, công nhân viên và lao động ngành khoa học và công nghệ Vĩnh Phúc.

Trong thời gian tới, ngành KH&CN tỉnh Vĩnh Phúc sẽ tiếp tục đoàn kết nhất trí, khắc phục mọi khó khăn đem hết sức mình, tinh thần và trí tuệ để làm tốt hơn nữa công tác quản lý KH&CN. Đổi mới sâu sắc công tác quản lý, triển khai có hiệu quả các chương trình đề tài dự án KH&CN, phát động phong trào nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao KHCN rộng khắp trong tỉnh, đưa KH&CN trở thành động lực quan trọng thúc đẩy kinh tế xã hội của tỉnh phát triển, góp phần quan trọng vào công cuộc CNH-HĐH đất nước, góp phần xứng đáng đưa quê hương Vĩnh Phúc phát triển phồn vinh và bền vững như lời Bác Hồ căn dặn khi về thăm tỉnh nhà.

Vân Anh

Các tin đã đưa ngày: