Giải pháp xây dựng mô hình ứng dụng công nghệ cao gắn với liên kết theo chuỗi giá trị vào sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

03/05/2019

Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, tiếp giáp với thủ đô Hà Nội, Vĩnh Phúc có lợi thế rất lớn để phát triển sản xuất nông nghiệp công nghệ cao (CNC) cung cấp cho thị trường rộng lớn này. Những năm gần đây, khi diện tích đất canh tác ngày càng thu hẹp để nhường chỗ cho phát triển công nghiệp, đô thị thì việc ứng dụng CNC trong sản xuất nông nghiệp là hướng đi tất yếu của nền nông nghiệp hiện đại. Để phát triển bền vững, tăng giá trị của ngành nông nghiệp theo tinh thần Đề án “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với chuyển đổi lao động nông thôn”, tỉnh Vĩnh Phúc đặt ra giải pháp phải có sự tham gia của các doanh nghiệp, tập đoàn lớn vào nông nghiệp CNC.

Trên địa bàn tỉnh đã hình thành được nhiều vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung, quy mô lớn theo lợi thế địa phương, áp dụng quy trình kỹ thuật tiên tiến, đảm bảo ATVSTP. Đến hết năm 2017, có 128 cơ sở được cấp giấy chứng nhận VietGAP với 71 cơ sở sản xuất rau, quả trên diện tích 700 ha; 39 cơ sở chăn nuôi lợn thịt, sản lượng khoảng 3.000 tấn thịt/năm; 9 cơ sở nuôi thủy sản, diện tích trên 60 ha, sản lượng khoảng 250 tấn/năm. Năm 2018, tỉnh tiếp tục triển khai thực hiện hỗ trợ 40 cơ sở sản xuất nông nghiệp, thủy sản. Việc áp dụng quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (VietGAP) ngày càng được mở rộng. Tiêu biểu như: Mô hình sản xuất của anh Nguyễn Văn Đề, xã Chấn Hưng, huyện Vĩnh Tường; Mô hình sản xuất của anh Nguyễn Thái Phi, xã Văn Tiến, huyện Yên Lạc; Mô hình sản xuất của anh Phạm Văn Xuân, xã Hoàng Lâu, huyện Tam Dương; Mô hình sản xuất của HTX RAT Vân Hội Xanh, Mô hình sản xuất của HTX RAT Vĩnh Phúc; HTX RAT Visa; Công ty cổ phần Nông lâm nghiệp và Môi trường Vĩnh Hưng, Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ nông nghiệp Trung Kiên; Công ty Cổ phần Đầu tư nông nghiệp Vĩnh Điền; Công ty VinEco Tam Đảo thuộc Tập đoàn VinGroup; Vùng sản xuất rau su su Tam Đảo, Vùng sản xuất chuối tiêu hồng, chuối tây ở Liên Châu và Đại Tự huyện Yên Lạc, Vùng sản xuất rau hữu cơ, Vùng sản xuất thanh long ruột đỏ ở huyện Lập Thạch, Vùng sản xuất sản phẩm dưa chuột…

Hiện tại trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đã có một số nông sản mà việc sản xuất và tiêu thụ có sự gắn kết giữa nông dân và doanh nghiệp thông qua hợp đồng, bao gồm các sản phẩm chăn nuôi (sữa, lợn), trồng trọt (su su, ớt, ngô ngọt, thanh long...). Trong số các mặt hàng này, hầu hết đã có sự tham gia của các nhà, như rau hữu cơ đã bước đầu tạo được niềm tin và tạo được đầu ra ổn định cho người nông dân yên tâm sản xuất. Tuy nhiên sự tham gia của các nhà là không đồng đều đối với các loại nông sản, đặc biệt là sự thiếu vắng của nhà khoa học trong liên kết của nhiều sản phẩm. Hiện tại có 4 nhóm yếu tố chính ảnh hưởng tới liên kết các nhà, bao gồm nhóm các yếu tố từ hộ sản xuất (quy mô nhỏ, trình độ hạn chế, ít dám thay đổi phương thức sản xuất và đầu tư; nhóm các yếu tố từ doanh nghiệp; nhóm các yếu tố từ nhà khoa học; nhóm các yếu tố từ Nhà nước; và nhóm các yếu tố từ phía HTX và khuyến nông.

Khảo sát cho thấy, nông nghiệp công nghệ cao ở Vĩnh Phúc đang trong quá trình hình thành, sản xuất nông nghiệp đã chứa đựng nhiều yếu tố công nghệ, nhưng về cơ bản thì mới ở trình độ thấp. Vì vậy, ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp, tạo ra các mô hình nông nghiệp công nghệ cao là nhu cầu tất yếu trong điều kiện hội nhập quốc tế và biến đổi khí hậu, đáp ứng xu thế phát triển nông nghiệp hiện đại. Việc này đối với nông nghiệp Vĩnh Phúc càng cần thiết hơn bởi nông nghiệp tỉnh giàu lợi thế, song cũng có những điểm yếu cơ bản, đó là ruộng đất vẫn còn manh mún, sản xuất mang tính chất nhỏ lẻ, thiếu nguồn lực, nhất là nhân lực có trình độ cao… Nông nghiệp Vĩnh Phúc muốn phát triển bền vững phải đầu tư chiều sâu, dùng khoa học công nghệ để nâng cao sản lượng và giá trị sản phẩm, tạo ra những nông sản có sức cạnh tranh trên thị trường.

Để thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nhất là nông nghiệp công nghệ cao thì cần phải giải quyết tốt vấn đề về đất đai, tạo ra những thửa ruộng đủ lớn để sản xuất quy mô lớn, áp dụng những thành tựu khoa học - công nghệ cao vào sản xuất; thực hiện các chính sách ưu đãi, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp; ưu tiên hỗ trợ các ngành hàng chủ lực, theo chuỗi liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ và quy mô lớn; thử nghiệm các mô hình tập trung, tích tụ ruộng đất phục vụ sản xuất nông nghiệp quy mô lớn; phát triển hệ thống sản xuất và cung cấp sản phẩm, dịch vụ hỗ trợ cho nông nghiệp công nghệ cao hoạt động một cách bền vững, có hiệu quả.

Trên cơ sở đó, có 7 nhóm pháp phát triển sản suất nông nghiệp công nghệ cao gắn với chuỗi giá trị được đưa ra, bao gồm: Đáp ứng nhu cầu về vốn cho tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc; Đẩy mạnh tích tụ ruộng đất, đáp ứng nhu cầu về đất sản xuất ổn định lâu dài cho các tổ chức, doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất nông nghiệp công nghệ cao trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc; Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng nhu cầu về lao động có trình độ cho các tổ chức, doanh nghiệp đầu tư nông nghiệp công nghệ cao và nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc; Tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị gắn sản xuất với thị trường đối với các mô hình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc; Tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng cho các vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc; Tiếp tục chương trình hỗ trợ xây dựng các mô hình thí điểm ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp tại những địa phương trọng điểm; Xây dựng cơ chế kết nối với Thủ đô Hà Nội và các địa phương khác trong việc cung ứng các nông sản có chất lượng phù hợp với tâm lý và thói quen của người tiêu dùng. Thực hiện tốt 7 nhóm giải pháp nêu trên sẽ góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao của tỉnh Vĩnh Phúc phát triển mạnh trong thời gian tới góp phần thực hiện thành công Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh.

Nguyễn Anh Tuấn - Phó phòng QLKH

Các tin đã đưa ngày: