Trình độ Công nghệ - Biến số chiến lược quyết định sự phát triển kinh tế-xã hội.

14/03/2019

Trong môi trường cạnh tranh quốc tế ngày càng tăng, trình độ công nghệ được xem là một trong những biến số chiến lược quyết định sự phát triển kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia. Đối với các nước đang phát triển đã xây dựng được một chiến lược phát triển công nghệ hợp lý để phát huy vai trò động lực của công nghệ đối với tăng trưởng kinh tế và điều này đã được minh chứng bởi những thành công của một số nước công nghiệp mới (NICs) trong việc áp dụng nguyên tắc phát triển dựa trên cơ sở dữ liệu về trình độ công nghệ.

Đối với doanh nghiệp, công nghệ là thứ vũ khí sắc bén để tạo lợi thế cạnh tranh trên thị trường. Điều này đòi hỏi phải tạo lập một cơ sở dữ liệu về trình độ công nghệ để các doanh nghiệptự nhậm định, đánh giá về công nghệ của mình đưa ra các giải pháp phát triển công nghệ nhằm mục đích nâng cao lợi nhuận, phục vụ lợi ích quốc gia.

Công nghệ là gì?

Theo Luật Khoa học và Công nghệ số 29/2013/QH13 ngày 18 tháng 6 năm 2013 và Luật Chuyển giao công nghệ số 07/2017/QH14 ngày 19/6/2017 đã thống nhất khái niệm về công nghệ: “Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm”. Khái niệm trên đã phản ánh rõ bản chất của công nghệ, đó là: (1) Công nghệ là kết tinh của quá trình lao động sáng tạo của con người nhằm đạt đến mục tiêu xác định; (2) Công nghệ là tập hợp nhiều thành phần tạo thành phép biến đổi trong quá trình sản xuất; (3) Công nghệ là tận dụng tiến bộ khoa học vào trong quá trình sản xuất để biến đổi yếu tố sản xuất đầu vào thành sản phẩm, dịch vụ đầu ra; (4) Công nghệ không phải là biến đổi các nguồn lực đầu vào thành sản phẩm, dịch vụ ở đầu ra chỉ vì mục đích sinh lời mà còn phải kể đến các mục đích khác như an ninh quốc phòng, bảo vệ môi trường, chăm sóc sức khỏe cộng đồng,...; (5) Mọi công nghệ đều có giá trị và giá trị sử dụng, từ đó mọi công nghệ đều là hàng hóa có thể mua bán với một giá gắn với nó.

Khi xem xét các thành phần về công nghệ có thể được coi là tổ hợp của bốn thành phần chính có tác động qua lại với nhau và cùng thực hiện một sự chuyển đổi trong quá trình sản xuất vật chất, bao gồm:

-       Phần thiết bị công nghệ (Technoware - viết tắt là phần T) thể hiện về mặt vật thể của công nghệ như máy móc, công cụ, phương tiện.

-       Phần nhân lực (Humanware – viết tắt là phần H) thể hiện trong năng lực tiếp thu kỹ thuật công nghệ như kỹ năng, kỹ xảo, tính sáng tạo, tính kiên trì… của từng cá nhân hay nhóm lao động.

-       Phần thông tin (Infoware – viết tắt là phần I) thể hiện trong các tài liệu, dữ liệu thông tin như các bản vẽ thiết kế, các bảng tính toán, các công thức, các bí quyết, các phương pháp.

-       Phần tổ chức, quản lý (Orgaware – viết tắt là phần O) thể hiện trong công tác tổ chức, quản lý như phân công, phân nhiệm, mối quan hệ, sự phối hợp, mối liên kết….

Bốn thành phần công nghệ luôn có mặt đồng thời trong bất kỳ một sự chuyển đổi nào và cũng sẽ không có một quá trình chuyển đổi nào được thực hiện mà trong đó lại có thể thiếu vắng hoàn toàn một trong số bốn thành phần nói trên.

Trong bất kỳ sự chuyển đổi nào phần thiết bị công nghệ (T) là phần cốt lõi; trong đó, phần thiết bị công nghệ được triển khai, lắp đặt, vận hành và cải tiến nhờ phần nhân lực (H). Chính con người là yếu tố chủ đạo, vì con người sáng tạo ra thông tin và cũng được hướng dẫn bởi thông tin để vận hành phần thiết bị công nghệ. Đến lượt phần tổ chức quản lý (O) tiếp nhận và kiểm soát phần thông tin (I), phần nhân lực (H) và phần thiết bị công nghệ (T) để thực hiện quá trình chuyển đổi.

Quá trình vận động phát triển và tác động qua lại của 4 thành phần công nghệ hình thành nên đặc trưng vòng đời công nghệ:Khi công nghệ được sản sinh nó sẽ tiến theo 2 con đường hoặc là được thương mại hóa để tạo ra sản phẩm, dịch vụ phục vụ cho nhu cầu thị trường; hoặc nó sẽ không được thương mại hóa để rồi bị cất giữ và mai một. Khi công nghệ được thương mại hóa, nó vận động và phát triển theo một vòng đời công nghệ gồm 5 giai đoạn: (1) tiếp thị; (2) tiếp nhận; (3) tăng trưởng; (4) bão hòa; (5) đào thải. Giai đầu công nghệ được hình thành từ các trường Đại học, Viện nghiên cứu, các bộ phận nghiên cứu triển khai (RD), từ thực tiễn sản xuất của người lao động… thông qua kênh tiếp thị, công nghệ được các nhà hoạch định chiến lược của doanh nghiệp nắm bắt. Sau khi nghiên cứu tính khả thi của công nghệ về khía cạnh kỹ thuật và kinh tế, DN quyết định tiếp nhận công nghệ. Trong giai đoạn này số DN áp dụng công nghệ còn ít, tuy nhiên sau một thời gian sử dụng công nghệ có kết quả, một số lớn DN có nhu cầu mua công nghệ và tạo ra nhu cầu cao đối với công nghệ; đó là giai đoạn tăng trưởng của công nghệ. Sau giai đoạn tăng trưởng, khi mà các cải tiến về sản phẩm và quá trình sản xuất đã chậm lại, lúc đó thị trường có thể bão hòa; đó là giai đoạn bão hòa của công nghệ. Các nhà nghiên cứu – triển khai lại đưa ra công nghệ mới và sản phẩm mới thay thế làm cho công nghệ hiện hữu đi vào giai đoạn đào thải.Để công nghệ được thương mại hóa, công nghệ phải đáp ứng được các yêu cầu sau đây: (1) Công nghệ phải được sản sinh từ nhu cầu thị trường; (2) Công nghệ phải tạo được lợi thế cạnh tranh cho DN biểu hiện ở sản phẩm – dịch vụ với chi phí thấp, chất lượng cao và cung cấp đúng lúc cho thị trường; (3) Công nghệ phải phù hợp với năng lực tài chính, trình độ công nghệ, chiến lược sản phẩm, chiến lược phát triển công nghệ của DN.

Hiện nay, rất nhiều quốc gia trên thế giới coi công nghệ là một biến số làm tăng trưởng phát triển kinh tế xã hội. Vì thế, nhiều quốc gia đã xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu thống kê về KH&CN làm căn cứ cho việc xây dựng và hoàn thiện các chính sách và kế hoạch phát triển công nghệ. Trong số rất nhiều nước này, cần đặc biệt kể đến những cường quốc công nghiệp phát triển như Mỹ, Canada, Nhật, Pháp, Đức... Bài học từ các quốc gia phát triển chỉ ra rằng, đối với các nước đang phát triển, trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, vấn đề mang tính trọng tâm là xây dựng được hệ thống cơ sở dữ liệu về trình độ, năng lực công nghệ. Chúng tôi sẽ giới thiệu một số quốc gia thuộc nhóm các nước đang phát triển, đặc biệt là trong khu vực Đông nam Á, đã và đang coi KH&CN là một tác nhân quan trọng phát triển kinh tế. Ở các nước này, nhiều công trình nghiên cứu về công nghệ đã và đang được thực thi.

Đối với nước ta, việc thực hiện đánh giá trình độ công nghệ chỉ được Chính phủ quan tâm từ những năm đầu của thời kỳ mở cửa. Đã có nhiều nghiêm cứu, tuy nhiên chưa được thống nhất và đầy đủ. Ngày 08/04/2014Bộ KH&CN đã ban hành Thông tư số 04/2014/TT-BKHCN hướng dẫn đánh giá trình độ công nghệ sản xuất, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/06/2014. Việc áp dụng thông tư này sẽ là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc đánh giá trình độ công nghệ của mỗi địa phương. Từ đó các tỉnh đã có các nghiên cứu về trình độ công nghệ tại các địa phương:

Năm 2014, Đề tài “Đánh giá hiện trạng trình độ công nghệ doanh nghiệp sản xuất một số nhóm ngành kinh tế chủ lực trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn”, Viện Đánh giá khoa học và Định giá công nghệ - Bộ KH&CN chủ trì thực hiện.

Năm 2014, Đề tài “Đánh giá hiện trạng trình độ công nghệ doanh nghiệp thuộc các nhóm ngành kinh tế chủ lực trên địa bàn thành phố Đà Nẵng”, Viện Đánh giá khoa học và Định giá công nghệ - Bộ KH&CN chủ trì thực hiện.

Năm 2015, Đề tài “Đánh giá hiện trạng trình độ công nghệ doanh nghiệp sản xuất một số nhóm ngành kinh tế chủ lực và thực trạng quản lý công nghệ trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, đề xuất lộ trình đổi mới công nghệ giai đoạn 2016- 2025, tầm nhìn 2030” Viện Đánh giá khoa học và Định giá công nghệ - Bộ KH&CN chủ trì thực hiện.

Năm 2016, Đề tài “Đánh giá hiện trạng trình độ công nghệ doanh nghiệp thuộc các nhóm ngành kinh tế chủ lực trên địa bàn Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu”, Sở KH&CN Bà Rịa – Vũng Tàu phối hợp với Viện Đánh giá khoa học và Định giá công nghệ - Bộ KH&CN chủ trì thực hiện.

Tại tỉnh Vĩnh Phúc,năm 2018Sở KH&CN đã tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu, đánh giá thực trạng trình độ công nghệ sản xuất và giải pháp quản lý, phát triển công nghệ của các doanh nghiệp địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc”.Đề tài điều tra, đánh giá trình độ công nghệ sản xuất tại một số doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, xây dựng cơ sở dữ liệu và phần mềm đánh giá trình độ công nghệ sản xuất trên địa bàn tỉnh.

Theo số liệu thống kê, tính đến thời điểm 31/12/2017, tổng số doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn tỉnh là 789 doanh nghiệp, được chia làm 04 lĩnh vực, bao gồm: Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản; Công nghiệp khai khoáng; Công nghiệp chế biến, chế tạo; Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, 
nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí . Để tiến hành đánh giá trình độ công nghệ các doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn tỉnh, đề tài đã xây dựng tiêu chí lựa chọn các doanh nghiệp điển hình và thống nhất số lượng mẫu điều tra là 100 doanh nghiệp thuộc các ngành trên. Trong mỗi ngành, doanh nghiệp được chọn ngẫu nhiên. Tuy nhiên với đặc thù của tỉnh Vĩnh Phúc, đề tài tập trung khảo sát các lĩnh vực nhỏ (ngành cấp 2): các ngành sản xuất có số lượng lớn trên địa bàn tỉnh: (1) Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản, (2) Sản xuất vật liệu xây dựng, (3) Công nghiệp cơ khí, chế tạo, (4) Điện, điện tử, (5) May mặc, giầy da.

Trên cơ sở phiếu điều tra thu thập được, đề tài đã tính toán trình độ công nghệ các doanh nghiệp bằng phần mềm đánh giá trình độ công nghệ dựa trên nền tảng Web. Phần mềm cho phép tính toán và đánh giá trình độ công nghệ của doanh nghiệp và ngành, thể hiện kết quả qua bảng số liệu, biểu đồ hình thoi; cho phép so sánh kết quả đánh giá giữa doanh nghiệp và ngành bằng các đồ thị; cho phép so sánh giữa mức độ quan trọng và hiệu quả của các giá trị T, H, I, O của doanh nghiệp và ngành...

Kết quả đánh giá trình độ công nghệ đối với 100 doanh nghiệp điều tra sơ bộ cho thấy: trình độ công nghệ các doanh nghiệp trình độ công nghệ chủ yếu ở mức trung bình và lạc hậu chiếm 85,5%. Công nghệ có trình độ trung bình tiên tiến chỉ chiếm 14,5%.

Với hệ số đóng góp công nghệ TCC trung bình đạt 0,482 của 100 doanh nghiệp được khảo sát, có thể kết luận hiện trạng trình độ công nghệ chung đạt mức trung bình. Tương đương trình độ công nghệ của Bến Tre, Quảng Nam, kém hơn so với Đà Nẵng và Hải Phòng.  

Từ kết quả nghiên cứu cho phép rút ra những kết luận sau:

1. Công nghệ là một tổ hợp của 4 thành phần: Thiết bị công nghệ (T); Nhân lực (H); Thông tin (T); Tổ chức (O); có tác dụng tương hỗ lẫn nhau và cùng chuyển đổi, tác động vào trong quá trình sản xuất.

2. Công nghệ luôn vận động và phát triển theo vòng đời (tiếp thị, tiếp nhận, tăng trưởng, bảo hòa, đào thải) và khi đạt đến giới hạn bão hòa sẽ được thay thế bởi công nghệ mới, cho nên đổi mới công nghệ là một nhu cầu tất yếu và phù hợp với quy luật phát triển.

  3. Các kết quả đánh giá TĐCN giúp các nhà lãnh đạo, các nhà hoạch định chính sách, các doanh nhân có những cơ sở khoa học để từ đó định hướng chiến lược đầu tư phát triển công nghệ một cách hợp lý và khoa học, tuy nhiên bước đầu chỉ là các số liệu chưa đầy đủ, trong thời gian tới sẽ tiếp tục hoàn thiện và cugn cấp số liệu nhiều hơn thì kết quả đánh giá về trình độ công nghệ sẽ sát với thực tiễn hơn.

4. Đề tài đã hoàn thiện phần mềm – trang Web đánh giá trình độ công nghệ Vĩnh Phúc theo quy định Thông tư 04/2014/TT-BKHCN ngày 08/4/2014 của Bộ Khoa học và Công nghệ sản xuất, địa chỉ truy cập địa chỉ websitehttp://bitco.com.vn/danhgiatdcn . Trang Web tạo điều kiện quản lý thuận tiện về trình độ công nghệ, trang thiết bị của các doanh nghiệp, đồng thời giúp cho doanh nghiệp có thể tự đăng nhập và tự đánh giá trình độ công nghệ của chính doanh nghiệp mình quản lý.

5. Đề tài đã tiến hành điều tra thu thập thông tin 103 doanh nghiệp thuộc 05 nhóm ngành có tính đại diện cho các doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đảm bảo yêu cầu đề ra.

Tuy nhiên với các thông số đầu vào, số lượng mẫu nghiên cứu, chất lượng mẫu điều tra thu được thì kết quả đánh giá trình độ công nghệ các doanh nghiệp mang tính chất tương đối (chỉ đúng với các doanh nghiệp cung cấp đầy đủ và chính xác thông tin). Kết quả về trình độ công nghệ chỉ có tính chất tốt đối với cụ thể các doanh nghiệp. Việc so sánh, đánh giá trình độ công nghệ giữa các ngành, các khu công  nghiệp, các huyện phụ thuộc vào số lượng các doanh nghiệp, chất lượng thông tin doanh nghiệp cung cấp vì vậy trong phạm vi đề tài này các nội dung trên chưa đảm bảo tính đặc trưng cho từng khu công nghiệp.

6. Việc tính toán, đánh giá trình độ công nghệ rất phức tạp, nhóm nghiên cứu bước đầu đã hoàn thiện được công cụ đánh giá trình độ công nghệ phù hợp với hướng dẫn tại Thông tư 04/2014/TT-BKHCN là trang Web online, đảm bảo thuận tiện trong quản lý, khai thác, dễ dàng cho các đối tượng khác nhau truy cập, tìm hiểu.

7. Đề tài đề xuất 5 nhóm giải pháp quản lý, đổi mới công nghệ các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc. Các giải pháp nêu trên nếu được triển khai đồng bộ sẽ tạo cho tập thể các DN trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc nâng cao cơ hội và ý chí đổi mới công nghệ nhằm vươn tới một nền công nghệ tiên tiến, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh giai đoạn 2016 - 2020.

Một số các kiến nghị:

Để nâng cao trình độ công nghệ của các ngành trên địa bàn của tỉnh Vĩnh Phúc, đề tài kính đề nghị Lãnh đạo tỉnh xem xét giải quyết các kiến nghị sau:

1- UBND tỉnh Vĩnh Phúc cho phép đầu tư xây dựng “Trung tâm nghiên cứu, thiết kế, chế tạo và chuyển giao thiết bị công nghệ mới” trên cơ sở liên kết các Trường, Viện, Trung tâm nghiên cứu triển khai thuộc lĩnh vực cơ khí chế tạo và tự động hóa; Trung tâm khuyến công; các DN cơ khí… trên địa bàn tỉnh và khu vực với tiềm lực (nhân lực và cơ sở vật chất) xứng đáng là địa chỉ tin cậy của DN trong thiết lập và triển khai các dự án, chương trình,… đầu tư đổi mới công nghệ;

2- UBND tỉnh Vĩnh Phúc tạo lập cơ chế đặt hàng nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ thường xuyên: UBND tỉnh chỉ đạo Sở KH&CN, các Sở, ban, ngành và các DN sản xuất trên địa bàn tỉnh thiết lập một cơ chế đặt hàng nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ thường xuyên thông qua mô hình liên kết hợp tác giữa Sở KH&CN; các Sở, ban, ngành, DN sản xuất, Hiệp hội nghề nghiệp, Nhóm nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ (Nhóm nghiên cứu KH&CN). Trong đó, xác định đơn vị đặt hàng nghiên cứu và cung cấp kinh phí, địa chỉ ứng dụng cho nghiên cứu KH&CN; Nhóm nghiên cứu KH&CN tham dự tuyển chọn đơn hàng nghiên cứu, cũng đồng thời chủ động đề xuất định hướng nghiên cứu mới có giá trị thực tiễn cao.

3- Hội đồng KHCN tỉnh Vĩnh Phúc tuyển dụng các nhóm nghiên cứu đủ năng lực hỗ trợ cho các DN trong xây dựng, triển khai thành công các dự án/chương trình đổi mới công nghệ, tăng cường các đề tài nghiên cứu khoa học tại các doanh nghiệp nhằm đổi mới và hoàn thiện công nghệ;

4- Phát triển thị trường công nghệ: Sở KH&CN tham mưu cho UBND tỉnh ban hành các chính sách cùng các giải pháp thiết thực và khả thi nhằm phát triển thị trường công nghệ trên địa bàn tỉnh thông qua Sàn giao dịch thiết bị trực tuyến (đang được TT thông tin Khoa học và Công nghệ và tin học quản lý) và các chương trình kết nối cung - cầu về công nghệ, góp phần đẩy nhanh quá trình thương mại hóa các sản phẩm đầu ra của nghiên cứu KH&CN vào sản xuất và đời sống để nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng kinh phí đầu tư cho nghiên cứu KH&CN.

5- Tổ chức festival KH&CN trẻ: Sở KH&CN phối hợp với Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tỉnh Vĩnh Phúc tổ chức festival KH&CN trẻ với các gian hàng trưng bày các sản phẩm, các thành tựu KH&CN để tạo cho cán bộ KH&CN trẻ giới thiệu tiềm năng, thế mạnh, thành tựu và các sản phẩm tham gia festival phục vụ cho nhu cầu thiết thực của sản xuất nhằm tìm kiếm khách hàng. Bên cạnh đó, festival còn là diễn đàn để cán bộ KH&CN, cán bộ KH&CN trẻ, sinh viên, doanh nhân, nông dân… giao lưu trao đổi kinh nghiệm thúc đẩy nghiên cứu sáng tạo KH&CN đáp ứng nhu cầu sản xuất, góp phần phát triển kinh tế-xã hội tỉnh Vĩnh Phúc.

6- Tiếp tục triển khai các chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững trong thời kỳ hội nhập và toàn cầu hóa kinh tế:Theo Nghị quyết 35, Chính phủ đã yêu cầu các Bộ, Cơ quan ngang Bộ, Cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện có hiệu quả những nhiệm vụ và giải pháp sau: (1) Cải cách hành chánh, tạo thuận lơi cho DN; (2) Tạo dựng môi trường thuận lợi hỗ trợ DN khởi nghiệp, DN đổi mới sáng tạo; (3) Bảo đảm quyền kinh doanh, quyền bình đẳng tiếp cận nguồn lực và cơ hội kinh doanh của DN; (4) Giảm chi phí kinh doanh cho DN; (5) Bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của DN. 

Quang Vinh

Các tin đã đưa ngày: