Nâng cao hiệu quả quản lý công nghệ thông qua việc đánh giá trình độ công nghệ của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

03/07/2018

Trong bối cảnh hội nhập hiện nay, cạnh tranh quốc tế ngày càng tăng, các Doanh nghiệp (DN) liên tục phải đổi mới công nghệ và ứng dụng các công nghệ tiên tiến, công nghệ mới vào sản xuất để nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao tính cạnh tranh cho sản phẩm. Công nghệ được xem là một trong những chiến lược quyết định sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, mặt khác áp dụng các công nghệ tiên tiến, công nghệ mới cũng là công cụ để giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường giúp cho DN thực hiện việc sản xuất xanh hơn, sạch hơn nhằm hướng tới sự phát triển bền vững.

Để xác định được mức độ công nghệ tiên tiến, công nghệ cao, công nghệ hiện đại người ta thực hiện việc đánh giá trình độ công nghệ để từ đó làm cơ sở cho các DN áp dụng hoặc đổi mới công nghệ của mình.

Trước đây, khi nói đến công nghệ người ta chỉ nghĩ đến máy móc thiết bị, nếu như máy móc trang thiết bị càng hiện đại thì cho rằng trình độ công nghệ càng cao, quan điểm ấy chưa thật toàn diện và đầy đủ. Sự phát triển của khoa học và công nghệ đã làm thay đổi những quan điểm về đánh giá trình độ công nghệ. Đánh giá trình độ công nghệ là hoạt động xác định trình độ, hiệu quả kinh tế, tác động của công nghệ đến môi trường, kinh tế - xã hội, nó là một công việc quan trọng, giúp cho các nhà hoạch định thấy được trình độ công nghệ hiện tại của một ngành, một địa phương hay một quốc gia đang ở mức nào, so với địa phương hay một quốc gia khác… Từ đó có những định hướng chiến lược đầu tư phát triển cho ngành hay một địa phương phát triển bền vững. Tiếp thu các công nghệ mới, công nghệ hiện đại phù hợp với điều kiện cụ thể của ngành, địa phương, phát huy nội lực, công nghệ hiện có sử dụng một cách hiệu quả các nguồn lực; máy móc thiết bị, nhân lực…

Chính vì vậy, chúng ta cần phải thực hiện đánh giá trình độ công nghệ để có cái nhìn chính xác về công nghệ cụ thể của mỗi doanh nghiệp, mỗi ngành kinh tế. Trong phạm vi một vùng lãnh thổ, một địa phương có những tính đặc thù riêng, việc đánh giá trình độ công nghệ là hết sức cần thiết, cho phép xác định điểm xuất phát của lộ trình phát triển công nghệ một cách hợp lý và tối ưu hóa cách ngành nghề sản xuất. Ngoài ra, đánh giá trình độ công nghệ được coi là một thước đo nhằm xác định được giá trị thực tế của công nghệ để định giá và thỏa thuận các hợp đồng chuyển giao công nghệ, chuyển giao các kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ từ các tổ chức nghiên cứu phát triển trong nước hoặc nước ngoài đến các doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh.

Hiện nay, trên thế giới đã có nhiều phương pháp đánh giá trình độ công nghệ, tuy nhiên, mỗi phương pháp đều có những ưu nhược điểm riêng và phù hợp với đặc thù mỗi nền kinh tế, mỗi địa phương, có thể kể đến 3 phương pháp đánh giá trình độ công nghệ như: Phương pháp tiếp cận đầu vào đầu ra của quy trình (Science & technology input and output indicators); Phương pháp ATLAS công nghệ (Technology Atlas Project) do APCTT (Trung tâm chuyển giao công nghệ châu Á - Thái Bình Dương) xây dựng vào năm 1986 và Phương pháp tiếp cận theo quan điểm quản trị chiến lược, Sharif M.N năm 1995 (“Intergrating Business and Technology Strategies in Developing Countries” in Technology Forecasting and Social Change).

Tại Việt Nam cũng đã có các tài liệu, đề tài khoa học, công trình nghiên cứu đã và đang thực hiện liên quan đến vấn đề này để từ đó giúp cho các địa phương có được một cơ sở dữ liệu đánh giá trình độ công nghệ của các DN điển hình trong tỉnh, thành phố một cách chính xác. Trên cơ sở đó cung cấp một số thông tin cần thiết phục vụ cho việc xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển KT-XH trong thời gian qua, đồng thời giúp các doanh nghiệp địa phương thấy được hiện trạng công nghệ của mình để có kế hoạch đổi mới công nghệ.

Tỉnh Vĩnh Phúc đang đề ra mục tiêu trở thành một trong những địa phương đi đầu trong công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa của Việt Nam, trở thành thành phố công nghiệp vào năm 2020. Hiện nay, Vĩnh Phúc lựa chọn một số ngành như điện tử, dệt may, da giày, cơ khí,  ...... là những lĩnh vực mũi nhọn để tập trung phát triển. Bên cạnh đó, Vĩnh Phúc còn chú tâm đến ngành công nghệ thông tin (CNTT) và ngành du lịch, ...

Trong việc đánh giá trình độ công nghệ, cần thiết phải có một cái nhìn đầy đủ và chi tiết về công nghệ, các thành tố của nó để có thể khảo sát một cách đầy đủ, sát với thực tế nhất trình độ công nghệ của các ngành công nghiệp. Định nghĩa công nghệ của K.Ramanathan với bốn thành phần đã được lựa chọn để xem xét bởi sự toàn diện và cụ thể so với các định nghĩa khác.

- Thành phần Thiết bị (Technoware): bao gồm các công cụ và các phương tiện sản xuất thực hiện các hoạt động sản xuất để tạo ra các sản phẩm mong muốn.

- Thành phần Con người (Humanware): là kỹ năng và kinh nghiệm sản xuất biểu hiện về mặt con người của công nghệ.

- Thành phần Thông tin (Inforware): biểu thị việc tích luỹ kiến thức bởi con người.

- Thành phần Tổ chức (Orgaware): đề cập tới sự hỗ trợ về nguyên lý, thực tiễn, và bố trí để vận hành hiệu quả việc sử dụng Technoware bởi Humanware.

Công tác đánh giá trình độ công nghệ được đặc biệt quan tâm, nhất là trong những năm gần đây. Bộ KH&CN đã chỉ đạo một số đơn vị quản lý và đơn vị nghiên cứu tham mưu xây dựng thông tư hướng dẫn đánh giá trình độ công nghệ sản xuất trong đó có Viện Đánh giá khoa học và Định giá công nghệ là một trong các đơn vị tham gia. Sau một thời gian chuẩn bị tích cực, Bộ KH&CN đã ban hành Thông tư số 04/2014/TT-BKHCN ngày 08/4/2014 (Thông tư 04) về hướng dẫn đánh giá trình độ công nghệ sản xuất và có hiệu lực thi hành từ 1/6/2014. Sự ra đời của Thông tư 04 nhằm để thống nhất hệ thống tiêu chí đánh giá trình độ công nghệ sản xuất trong cả nước. Về cơ bản, phương pháp và hệ thống tiêu chí đánh giá dựa trên phương pháp ATLAS công nghệ. Việc ra đời của Thông tư 04 giúp cho việc so sánh các kết quả đánh giá giữa các doanh nghiệp cùng ngành hay giữa các ngành của các địa phương khác nhau mới có ý nghĩa và tạo điều kiện cho việc áp dụng thống nhất trong toàn quốc.

Thực hiện Thông tư 04/2014/TT-BKHCN ngày 08/4/2014 của Bộ Khoa học và Công nghệ về hướng dẫn đánh giá trình độ công nghệ sản xuất nhằm mục tiêu tổng điều tra thu thập các thông tin, phân tích, đánh giá trình độ công nghệ sản xuất của các DN. Năm 2017, Phòng Quản lý Công nghệ và Thị trường công nghệ - Sở Khoa học và Công nghệ Vĩnh Phúc đã và đang thực hiện đề tài: “Nghiên cứu, đánh giá thực trạng trình độ công nghệ sản xuất và giải pháp quản lý, phát triển công nghệ của các doanh nghiệp địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc” do Thạc sỹ Phan Quang Vinh làm chủ nhiệm đề tài.

Đề tài này có xây dựng và sử dụng phần mềm CNTT để tiến hành đánh giá trình độ công nghệ để đảm bảo chính xác, thường xuyên, liên tục, kịp thời đối với các công nghệ đã, đang và sẽ được áp dụng trên địa bàn. Kết quả đánh giá trình độ công nghệ sản xuất là cơ sở để các cơ quan, DN, tổ chức đề xuất giải pháp, chính sách nhằm đổi mới, nâng cao trình độ công nghệ sản xuất của DN, ngành hoặc địa phương. DN sẽ được cung cấp phiếu điều tra công nghệ sản xuất, sau đó, sẽ nhập các thông tin như: thông tin thiết bị, công nghệ; thông tin sản xuất; ứng dụng đổi mới công nghệ; thông tin nhân lực; trang bị thông tin…

Trình độ công nghệ sản xuất của DN hay ngành được thực hiện trên cơ sở mức đạt được của các tiêu chí thuộc bốn nhóm thành phần cơ bản T, H, I, O. Các thông số này sẽ được nhập vào phần mềm, sau đó chương trình này sẽ tự tính toán và cho ra kết quả cụ thể.

Quá trình phân tích, tính toán hoàn tất, máy tính sẽ hiển thị trình độ công nghệ của DN bằng các loại đồ thị. Các thông tin sẽ được hiển thị một cách trực quan và DN có thể nhận thấy được đang yếu ở vấn đề gì. Từ đó, các chuyên viên của Sở Khoa học và Công nghệ Vĩnh Phúc có thể tư vấn các phương pháp khắc phục hạn chế đó, giúp doanh nghiệp nâng cao trình độ công nghệ của mình.

Phân loại trình độ công nghệ dựa trên tổng số điểm các thành phần công nghệ T, H, I, O (tổng điểm các nhóm tiêu chí T, H, I, O) và hệ số đóng góp công nghệ (TCC) được tính toán dựa trên số điểm đạt được của các nhóm T, H, I, O và thể hiện bằng biểu đồ hình thoi là các căn cứ để đưa ra nhận xét và kết luận trong báo cáo kết quả đánh giá trình độ công nghệ sản xuất. Phần mềm sau khi hoàn tất quá trình xử lý sẽ đánh giá trình độ công nghệ của DN theo 4 mức: trình độ công nghệ lạc hậu, trình độ công nghệ trung bình, trình độ công nghệ trung bình tiên tiến, trình độ công nghệ tiên tiến.

Trình độ công nghệ lạc hậu: hệ số đóng góp công nghệ TCC nhỏ hơn 0,3 hoặc tổng số điểm các thành phần công nghệ T-H-I-O nhỏ hơn 35/100 điểm (hoặc điểm tỷ lệ T-H-I-O dưới 0.35);

Trình độ công nghệ trung bình: hệ số đóng góp công nghệ TCC từ 0,3 trở lên và tổng số điểm các thành phần công nghệ T-H-I-O từ 35/100 điểm đến dưới 60 điểm (hoặc điểm tỷ lệ T-H-I-O từ 0.35 đến 0.6);

Trình độ công nghệ trung bình tiên tiến: hệ số đóng góp công nghệ TCC từ 0,5 trở lên và tổng số điểm các thành phần công nghệ T-H-I-O từ 60/100 điểm đến dưới 75/100 điểm (hoặc điểm tỷ lệ T-H-I-O từ 0.6 đến 0.75);

Trình độ công nghệ tiên tiến: hệ số đóng góp công nghệ TCC từ 0,65 trở lên và tổng số điểm các thành phần công nghệ T-H-I-O bằng hoặc trên 75/100 điểm (hoặc điểm tỷ lệ T-H-I-O trên 0.75).

Trong tương lai, Sở Khoa học và Công nghệ Vĩnh Phúc sẽ tổ chức đánh giá công nghệ theo hình thức trực tuyến thay vì phát phiếu điều tra trực tiếp đến DN như hiện nay. Cụ thể, DN sẽ có một tài khoản để đăng nhập vào phần mềm ứng dụng, các chỉ số thông tin của DN cũng được nhập vào máy tính. Sau đó, Phòng Quản lý Công nghệ và Thị trường công nghệ sẽ chịu trách nhiệm xử lý dữ liệu và trả kết quả cho DN qua mạng. Điều này sẽ tạo thuận lợi rất lớn cho DN khi tổ chức đánh giá trình độ công nghệ cho DN mình.

Ngoài ra, các DN có thể tham khảo mức trình độ công nghệ của đơn vị mình đang áp dụng trên website Sở Khoa học và Công nghệ Vĩnh Phúc. Từ đó đề xuất, lập kế hoạch đổi mới công nghệ hoặc áp dụng các công nghệ tiên tiến, công nghệ mới, công nghệ cao hơn./.

Nguyễn Thành Trung

Các tin đã đưa ngày: