Một số kết quả hoạt động nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc trong thời gian qua

07/08/2017

Trong thời gian qua từ năm 2015 - 2017 theo phân cấp, Sở Khoa học và Công nghệ, UBND tỉnh đã ra quyết định phê duyệt gần 200 lượt đề tài, với tổng kinh phí 65.142,0 triệu đồng. Theo báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học năm 2016 do Sở KH&CN thực hiện, tỷ lệ hiệu quả ứng dụng vào thực tế của các đề tài thực hiện trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2011-2013 đạt 68,39%. Các đề tài thực hiện trong những năm qua của tỉnh Vĩnh Phúc đã bám sát được định hướng phát triển của ngành KH&CN, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh. Kết quả nghiên cứu đã phân tích, làm rõ nhiều mâu thuẫn xã hội phát sinh trong quá trình phát triển, cung cấp và bổ sung thêm nhiều luận cứ khoa học trong việc xây dựng các chính sách phát triển kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng. Các đề tài đưa vào nghiên cứu có tính khả thi cao, các nhiệm vụ được ứng dụng nhân rộng trong sản xuất và đời sống ngày càng tăng. Tác động của KH&CN đối với sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh ngày càng rõ rệt, hiệu quả hơn.

1. Triển khai các định hướng nhiệm vụ khoa học và công nghệ chủ yếu Lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn:

1.1. Việc triển khai, ứng dụng các dự án thuộc chương trình Nông thôn miền núi (NTMN):

Các dự án thuộc chương trình NTMN được thực hiện theo từng giai đoạn 05 năm. Trong giai đoạn 2011-2015, trên địa bàn tỉnh triển khai 09 dự án: trong đó có 05 dự án do Trung ương quản lý, 04 dự án Trung ương ủy quyền địa phương quản lý. Các dự án chủ yếu tập trung về lĩnh vực nông nghiệp với việc thâm canh sản xuất lúa, cây rau, cây dược liệu, chăn nuôi lợn.

Việc tổ chức thực hiện các dự án thuộc Chương trình NTMN trên địa bàn thời gian qua phù hợp định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong cùng giai đoạn. Bên cạnh sự hỗ trợ về kinh phí từ sự nghiệp khoa học và công nghệ Trung ương đối với các dự án ủy quyền cho địa phương quản lý, tỉnh đã bố trí nguồn kinh phí đối ứng đảm bảo các dự án triển khai đúng quy mô, tiến độ được phê duyệt.

Qua các Dự án thực hiện trên địa bàn tỉnh đã tổ chức đào tạo, tập huấn kỹ thuật và chuyển giao công nghệ cho hàng trăm kỹ thuật viên và người dân trực tiếp tham gia các mô hình sản xuất; tiếp nhận 50 quy trình công nghệ sản xuất các loại rau quả ngoài trời và trong nhà lưới, quy trình sản xuất cây con giống trong vườn ươm; quy trình sản xuất rau trái vụ, cây dược liệu, thâm canh tổng hợp lúa; quy trình chăn nuôi lợn. Các dự án đã kịp thời triển khai và đưa vào ứng dụng các tiến bộ mới tại nhiều địa bàn trọng điểm gắn với chủ trương phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh như: chăn nuôi gia súc, gia cầm theo quy mô công nghiệp; xây dựng các vùng trồng rau hàng hóa, sản xuất rau an toàn theo tiêu chuẩn VietGap; Phát triển các vùng dược liệu ...

Kết quả các dự án góp phần nâng cao thu nhập người sản xuất; thay đổi được tư duy, tập quán sản xuất từ truyền thống sản xuất nhỏ lẻ, manh mún của người dân các huyện nghèo miền núi sang hình thức canh tác mới, sản xuất thành vùng hàng hóa với công nghệ tiên tiến. Việc áp dụng những kỹ thuật tiến bộ trong sản xuất đã nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm; tạo ra được những mô hình sản xuất sạch, chất lượng, giảm thiểu ô nhiễm môi trường do giảm sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật gây ra, tạo môi trường nông thôn sạch, tốt cho sức khỏe người dân giúp người dân phát triển kinh tế.

1.2.Kết quả thực hiện các đề tài, dự án cấp tỉnh:

Sản xuất nông nghiệp của tỉnh Vĩnh Phúc trong 5 năm qua đã có chuyển biến tích cực: Phát triển sản xuất nông nghiệp gắn với giải quyết tốt các vấn đề xã hội, đẩy mạnh việc thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; sản xuất phát triển toàn diện, cơ cấu kinh tế nông - lâm nghiệp, thủy sản, cơ cấu giống, cây trồng, vật nuôi, cơ cấu thời vụ có chuyển dịch tích cực, đúng hướng, đem lại hiệu quả ngày càng cao; Trong những năm qua, trồng trọt đã có bước chuyển dịch tích cực theo hướng sản xuất hàng hoá và nâng cao chất lượng sản phẩm. Toàn tỉnh đã hình thành 487 vùng trồng trọt hàng hoá tập trung với diện tích 4,3 ngàn ha, cung cấp hàng trăm tấn bí đỏ, bí xanh, dưa chuột, khoai tây,... cho thị trường trong và ngoài tỉnh. Giá trị sản xuất bình quân trên một ha canh tác tăng qua các năm, năm 2015 đạt: 135 triệu đồng/ha, gấp 1,6 lần so năm 2010. Nhiều mô hình sử dụng giống lúa mới cho năng suất, chất lượng cao đã được nhân rộng, đưa năng suất lúa bình quân đạt 54,4 tạ/ha, tăng 4,1 tạ/ha so bình quân 5 năm 2006-2010. Sản lượng lương thực có hạt năm 2015 ước đạt 39,5 vạn tấn, đạt mục tiêu Đại hội đề ra (39-40 vạn tấn). Chăn nuôi phát triển khá, giá trị sản xuất tăng bình quân 4,4%/năm. Sản xuất thủy sản phát triển mạnh, giá trị sản xuất thủy sản bình quân tăng 11%/năm.

Từ năm 2012 đến năm 2016, triển khai thực hiện 93 đề tài, dự án KH&CN thuộc lĩnh vực nông lâm nghiệp, xây dựng nông thôn mới (chiếm 30,60% TSĐT).

Nhiều đề tài được ứng dụng rộng rãi vào thực tế đời sống góp phần quan trọng phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Một số kết quả mô hình được tuyên truyền sâu rộng và được các địa phương khác trên địa bàn tỉnh ứng dụng như: Mô hình xây dựng vùng sản xuất hàng hóa cà chua ghép theo hướng VietGAP tại huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc; Mô hình triển khai thực nghiệm giống lúa mới chất lượng cao Hoa khôi 4 trên những vùng đất khác nhau của tỉnh Vĩnh Phúc; Mô hình trồng cây dược liệu quý như: Trà hoa vàng, Ba kích, Đinh lăng, gừng....Hoàn thiện quy trình sản xuất và xây dựng mô hình trình diễn giống lạc, đậu tương có năng suất cao và chất lượng tốt nhằm nâng cao giá trị canh tác; Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật thụ tinh nhân tạo lợn, bò bằng các giống mới để nâng cao năng suất, chất lượng thịt góp phần an toàn dịch bệnh trên địa bàn tỉnh; Mô hình nuôi thử nghiệm sinh sản cá Tầm, cá Lăng trên địa bàn Tam Đảo ... góp phần xoá đói giảm nghèo, nâng cao đời sống kinh tế xã hội ở một số địa phương, nhất là vùng đồng bào dân tộc miền núi.

Đã ứng dụng công nghệ sinh học trong việc tuyển chọn, phục tráng, sản xuất các giống cây trồng như các giống đậu đỗ, các giống lúa lai có năng suất, chất lượng được vào cơ cấu giống lúa của tỉnh như: Đắc ưu 11, Thục Hưng 6, TH3-3, Đại dương 1; Syn 6; Xuyên hương 9838. Nhân giống khoai tây bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào và xây dựng mô hình trồng thử nghiệm khoai tây nuôi cấy mô. Ngô lai chất lượng cao đang từng bước đưa vào gieo trồng trên địa bàn tỉnh; Ứng dụng ghép cà chua lên gốc cây cà tím và sản xuất theo tiêu chuẩn VietGap; trồng dưa hấu ghép trên gốc bầu. Triển khai dự án rau an toàn, quy mô 130 ha ở 16 xã, 9.000 hộ nông dân tham gia, sản lượng 2,5 vạn tấn/năm; Dự án: Triển khai sản xuất các giống và các dòng lúa ưu việt cho năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu sâu bệnh được tạo bằng công nghệ sinh học. Đã áp dụng phương pháp trồng rau, hoa trong nhà lưới, nhà kính bằng kỹ thuật thuỷ canh, canh tác trên giá thể không đất; sử dụng cây trồng được sản xuất theo công nghệ nuôi cấy mô cho hoa lan, cây cảnh, cây lâm nghiệp,...; Nghiên cứu và ứng dụng công nghệ sinh học trong nhân giống, bảo tồn các loài cây, con dược liệu và sản xuất các dược chất, các sản phẩm thứ cấp có giá trị, như: Duy trì lưu giữ gen các giống hoa Lan, cây lô hội, cây dược liệu quý như sâm Ngọc linh, cây Ba Kích cây Trà hoa vàng....

Trong giai đoạn này, chú trọng hơn đến công tác sau thu hoạch và phát triển thị trường cho các sản phẩm của các đề tài, dự án nhằm nâng cao giá trị, giá thành của sản phẩm, tạo ra sản phẩm có thương hiệu, thị trường ổn định ... Tạo thành phương thức khép kín từ lúc: Nghiên cứu à Hoàn thiện công nghệ à Sản xuất thử nghiệm à Chuyển giao công nghệ à Chế biến sau thu hoạch à Thị trường. Với chu trình khép kín này, các kết quả nghiên cứu nhanh chóng được đưa vào ứng dụng và nhân ra diện rộng như: Đề tài "Nghiên cứu, trồng thử nghiệm một số giống ớt thương phẩm nhập nội, hình thành chuỗi giá trị nhằm phát triển vùng nguyên liệu ớt phục vụ xuất khẩu trên địa bàn huyện Tam Dương"; Xây dựng mô hình bảo tồn và phát triển cây dược liệu quý hiếm Trà hoa vàng trên địa bàn huyện Tam Đảo"

Một số đề tài đã được triển khai, xây dựng, bảo hộ nhãn hiệu sản phẩm tạo ra sản phẩm có thương hiệu, có sức quảng bá, tuyên truyền rộng rãi trên thị trường như: Xây dựng, bảo hộ nhãn hiệu Cá Thính, Thanh Long ruột đỏ Lập Thạch; BAKITAĐA (Ba kích Tam Đảo – Vĩnh Phúc); TRAVATAĐA (Trà vàng Tam Đảo – Vĩnh Phúc);  Kết quả thực hiện các đề tài này đã hình thành nên một số vùng sản xuất hàng hóa tập trung chuyên canh, thâm canh với phương thức sản xuất tiên tiến, đảm bảo chất lượng sản phẩm và ổn định thị trường.

Hiện nay Sở KH&CN đang triển khai, thực hiện một số đề tài, dự án theo chuỗi khép kín như: Dự án "Xây dựng mô hình thí điểm liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm nội địa và xuất khẩu, ứng dụng công nghệ sinh học, công nghệ thông tin gắn với mô hình HTX tiên tiến đối với sản phẩm chuối tiêu hồng tại huyện Yên Lạc"; Dự án: "Xây dựng mô hình thí điểm liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm nội địa và xuất khẩu, ứng dụng công nghệ sinh học, công nghệ thông tin gắn với mô hình HTX tiên tiến đối với sản phẩm Rau, Củ, Quả tại huyện Vĩnh Tường và huyện Tam Dương" Các dự án thực hiện với mục đích xây dựng mô hình liên kết theo chuỗi từ sản xuất giống cây con, ứng dụng công nghệ cao, CNTT trong quy trình từ trồng cây đến thu hoạch, sơ chế, bảo quản, đóng gói, xây dựng thương hiệu, chỉ dẫn địa lý, thị trường...

Ngoài việc nâng cao năng suất, chất lượng các sản phẩm trong sản xuất và đời sống việc thực hiện các đề tài, dự án thuộc lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn đã nâng cao cả trình độ, kiến thức, kỹ thuật cho cán bộ và người dân. Qua việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN đã tổ chức tập huấn, chuyển giao công nghệ cho các địa phương (khoảng hơn 5000 lượt người tham gia) về ứng dụng các tiến bộ KH&CN thuộc lĩnh vực nông lâm nghiệp, xây dựng nông thôn mới. Đào tạo, bồi dưỡng được nhiều cán bộ kỹ thuật ở cơ sở về các kiến thức nghiệp vụ tổ chức quản lý, kỹ thuật ứng dụng tiến bộ KH&CN mới. Đây là lực lượng nòng cốt để tiến hành ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật và triển khai ra diện rộng các mô hình có hiệu quả sau khi các đề tài, dự án kết thúc vào sản xuất và đời sống, góp phần quan trọng thúc đẩy tăng năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, tăng kim ngạch xuất khẩu và tăng trưởng của lĩnh vực nông lâm nghiệp ở địa phương nói riêng và của cả tỉnh nói chung.

2. Những khó khăn, hạn chế:

Mặc dù Vĩnh Phúc đã rất tích cực trong công tác thông tin tuyên truyền, phổ biến các mô hình, tiến bộ KH&CN đã có hiệu quả. Đây là những mô hình thực tiễn, được triển khai trên địa bàn tỉnh, song nhận thức của các cấp, các ngành, đặc biệt là nhân dân về vai trò của KH&CN nói chung còn hạn chế, cho dù ai cũng biết KH&CN có tác động, ảnh hưởng lớn thế nào đến cuộc sống và sản xuất. Nguyên nhân chủ yếu là do tính trừu tượng của KH&CN, mặt khác, các cấp các ngành chưa nhận thức được tính trễ của khoa học. Đây là điều hết sức khó khăn khi thực hiện công tác tuyên truyền. Giải pháp khả thi trong việc nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và nhất là người dân về vai trò của KH&CN nói chung.

- Các văn bản của Trung ương và tỉnh về thực hiện KH&CN đã có nội dung phong phú, nêu rõ quan điểm, phương hướng, mục tiêu, nội dung và các giải pháp tổ chức thực hiện. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai, thực hiện cũng còn những hạn chế trong sự phối hợp giữa các ngành và địa phương. Nguyên nhân chủ yếu là do hệ thống văn bản của Nhà nước điều chỉnh liên quan đến hoạt động KH&CN nhiều và chồng chéo, địa phương rất khó thực hiện như các chính sách về đất đai, đầu tư, tài chính, ngân hàng... Hơn nữa, các thủ tục hành chính trong việc thực hiện các cơ chế, chính sách hỗ trợ, ưu đãi cho hoạt động KH&CN còn phức tạp, mất nhiều thời gian.

- Huy động nguồn lực cho KH&CN. Mặc dù trong những năm qua, các cấp, các ngành đã nhận thức được vai trò của KH&CN, đã tích cực trong việc huy động các nguồn lực cho hoạt động KH&CN. Tuy nhiên, việc huy động các nguồn lực cho hoạt động KH&CN còn hạn chế, nhất là việc huy động vốn từ các doanh nghiệp đầu tư cho KH&CN để nghiên cứu, đổi mới công nghệ, thiết bị, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng sức cạnh tranh trên thị trường. Nguyên nhân chủ yếu là các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, quy mô nhỏ lẻ, năng lực sản xuất, kinh doanh thấp, phần lớn chưa có chiến lược cụ thể, còn có tư tưởng nặng về sự hỗ trợ của nhà nước nên không mạnh dạn đầu tư cho KH&CN. Mặt khác, thủ tục hành chính trong việc vay vốn đầu tư, đổi mới công nghệ, thiết bị còn nhiều, doanh nghệp khó tiếp cận được nguồn vốn này.

3. Một số định hướng ứng dụng KH&CN trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 2016-2020 và tầm nhìn đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc:

- Tăng cường thu hút các doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu phát triển công nghệ cao mới trong sản xuất nông nghiệp, góp phần đưa trình độ công nghệ nông nghiệp của tỉnh ngang bằng trình độ khá trong khu vực Châu Á;

- Đẩy mạnh phát triển toàn diện nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, bao gồm cả doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, các khu công nghiệp ứng dụng công nghệ cao, phấn đấu đến năm 2020 trên địa bàn tỉnh có 10 doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, chủ yếu là sản xuất các loại rau, hoa, quả, thực phẩm, chăn nuôi đảm bảo các điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm phục vụ cho đô thị Vĩnh Phúc và Hà Nội;

- Đào tạo, thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao trong sản xuất nông nghiệp;

- Ứng dụng công nghệ bức xạ hạt nhân trong sản xuất nông nghiệp đối với các lĩnh vực sản xuất như nghiên cứu ứng dụng vật liệu sinh học cải tạo đất các loại; vắc xin phòng bệnh dịch ở gia súc gia cầm; bảo quản thịt gia súc, gia cầm và các sản phẩm từ gia súc, gia cầm ở dạng tươi sống hoặc đông lạnh.

- Tiếp tục nghiên cứu xây dựng phát triển mô hình xây dựng nông thôn mới theo hướng hiện đại kết hợp phát triển đô thị và du lịch;

- Đầu tư xây dựng các mô hình bảo vệ rừng quốc gia Tam Đảo, mô hình kết hợp phát triển nông nghiệp, nông thôn gắn với du lịch sinh thái, du lịch tâm linh và nghỉ dưỡng nhằm khai thác có hiệu quả đa dạng sinh học tại Tam Đảo và các khu vực khác trong tỉnh./.

Vân Anh

Các tin đã đưa ngày: