Văn học nghệ thuật từ đầu thế kỷ XX đến năm 2010

15/04/2013

So với các địa phương khác, vị trí địa lí của Vĩnh Phúc (trước cách mạng là Vĩnh Yên và Phúc Yên) đã tác động rất lớn đến sự phát triển của văn học nghệ thuật giai đoạn nửa đầu thế kỉ XX. Vĩnh Phúc nằm ở cửa ngõ phía tây của Hà Nội, từ tỉnh lị về đến trung tâm Hà Nội chỉ khoảng hơn ba chục cây số. Điều đó khiến cho đại bộ phận văn nhân Vĩnh Phúc bị hút về Hà Nội cũng là điều dễ hiểu. Đó có lẽ cũng là tâm thế chung của các trí thức nửa đầu thế kỉ. Không phải ngẫu nhiên mà nhà văn hóa Vũ Ngọc Phan trong “Chuyện Hà Nội” đã mượn ca dao mà phóng tác:

Mười năm bút mặc giang hồ

Có về Hà Nội cơ đồ mới nên.

Rồi ông khẳng định: "Ông muốn viết hay, viết tài đến đâu thì viết, tha hồ ông vẽ rồng vẽ phượng, tha hồ ông nhả ngọc phun châu, nhưng nếu ông cứ yên chí ông là một nhà đại văn hào hay một nhà đại ngôn luận, rồi ông viết những sách, những báo chỉ lưu hành quanh quẩn trong một vài tỉnh xa lắc mà Hà Nội không biết đến, tôi đố ông có thể trở nên một nhà văn hay một nhà báo có tên tuổi trên văn đàn hay trong báo giới Việt Nam”.

Về văn học, trước Cách mạng Tháng Tám 1945, đáng chú ý là nhà văn Đỗ Tốn (1921 - 1973) và nhóm Tự lực văn đoàn. Đỗ Tốn tên thật là Đỗ Đình Tốn, sinh tại Vĩnh Yên. Ông là em trai của điền chủ Tam Lộng (Vĩnh Phúc) Đỗ Đình Đạo, sau có chân trong Việt Nam Quốc dân Đảng của Nhất Linh Nguyễn Tường Tam. Chính mối quan hệ giữa người anh với các trí thức xung quanh gia đình Nguyễn Tường đã giúp Đỗ Tốn có mối quan hệ khá mật thiết với Tự lực văn đoàn. Năm 1942, khi đang lánh nạn tại Quảng Châu, Nhất Linh đã viết lời giới thiệu cho tập truyện ngắn Hoa vông vang của Đỗ Tốn với lời khen ngợi khá nhiệt thành. Những tập sách mãi đến năm 1945 mới ra mắt người đọc bài nhà xuất bản Đời nay của Tự lực văn đoàn. Sách gồm 8 truyện: Tình quê hương, Duyên số, Định mệnh, Một kiếp sống, Chú tôi, Điệu thu ca, Giáo huấn và Hoa vông vang. Sau năm 1954, khi di cư vào Nam, Đỗ Tốn có thêm một số tác phẩm như Ả hầu, Người thiếu nữ kỳ diệuHai quả mận.

Các văn nghệ sĩ từng sinh sống một khoảng thời gian ở Vĩnh Phúc khi ấy có thể kể đến như nhà giáo, nhà văn Nguyễn Khắc Mẫn và hai anh em hoạ sĩ Linh Chi, nhà văn Trọng Hứa. Ông giáo Nguyễn Khắc Mẫn có lên Vĩnh Yên dạy học một thời gian, đồng thời cũng là thầy giáo của Linh Chi và Trọng Hứa. Năm 1937, tiểu thuyết Nỗi lòng của ông được giải thưởng Tự lực văn đoàn Họa sĩ Linh Chi tên thật là Nguyễn Tài Lương, nổi tiếng về tranh lụa, có những bức được nhiều người chú ý như tranh Ca sĩ Thành Lan; còn nhà văn Trọng Hứa (tên thật là Nguyễn Trọng Hứa, người từng có lúc đã giữ trọng trách Chánh văn phòng Hội Nhà văn Việt Nam). Về nhà văn Trọng Hứa, trong Những gương mặt, Tô Hoài có nhắc lại tâm sự của Trọng Hứa với đất Vĩnh Yên: “Lúc nào Trọng Hứa cũng thiết tha yêu vùng đất Vĩnh Yên. Những trang sách phảng phất Vĩnh Yên, từ Nhất Linh đến Đỗ Tốn và cho tới bây giờ đã chỉ hơi hướng khoảnh khắc, một bóng dáng mơ hồ Vĩnh Yên đã khiến tâm sự anh bối rối”

Vĩnh Phúc cũng là vùng đất gắn bó với Tản Đà. Những ngày sống ở Vĩnh Yên đã được Tản Đà ghi lại trong sáng tác của ông ở giai đoạn sau. Tuy nhiên, phải từ những năm 30 của thế kỉ XX trở đi, văn học Vĩnh Phúc mới thực sự hòa nhập từng bước với không khí văn chương cả nước.

Sau 1945, do hoàn cảnh lịch sử, cùng với Việt Bắc, Vĩnh Phúc là một trong những cái nôi của văn học cách mạng. Rất nhiều trí thức, văn nghệ sĩ đã sơ tán, tản cư lên Vĩnh Phúc. Vì thế, về phương diện nào đó, có thể khẳng định rằng văn hoá hiện đại Vĩnh Phúc thực sự ra đời cùng với sự hình thành của nước Việt Nam mới và là bộ phận ưu tú của nền văn học nước nhà. Trong hơn sáu mươi năm qua, Vĩnh Phúc đã sản sinh ra nhiều những nhà văn tài năng của văn học dân tộc, đồng thời cũng là mảnh đất gieo nguồn cảm hứng cho nhiều nhà văn ở các vùng đất khác lên sinh sống và hoạt động ở đây.

Về văn xuôi, phải kể đến sự góp mặt của rất nhiều các nhà văn thuộc thế hệ chống Pháp, chống Mỹ và cả các nhà văn trẻ lứa sau như Việt Anh, Ngô Văn Phú, Vũ Đình Minh, Xuân Mai, Thái Vượng, Nguyễn Mạnh Tuấn, Trương Vĩnh Tuấn…Trong số các nhà văn này, Việt Anh vào Hội Nhà văn Việt Nam từ năm mới thành lập và ra mắt hồi kí về Bác ngay khi Người qua đời thể hiện được lòng kính yêu của tác giả nói riêng và nhân dân Việt Nam nói chung. Ngô Văn Phú có một sức viết dồi dào suốt từ những năm 70 đến tận hôm nay. Nguyễn Mạnh Tuân là cây bút nổi bật của văn học Việt Nam những năm đổi mới, còn các tác giả khác thường xuyên có tác phẩm in ở các báo và tạp chí Trung ương, nhận được nhiều giải thưởng trong các cuộc thi của Hội Nhà Văn, các Hội thành viên và báo chí cả nước.

Hầu như các tác giả khác đều có kí, đặc biệt là những năm trước thềm đổi mới, có một số tác giả có xuất bản được các tập kí sự hay truyện kí như Xuân Mai với Con đường và đồng đội. Hà Đình Can với Quần đảo san hô, Duông kai, Những ngôi sao Itxara, Vòng lăm vông thứ hai, Đường gập ghềnh...

Nếu như kí trực diện với đời sống thường ngày thì truyện ngắn và tiểu thuyết tập trung nhiều hơn đến vấn đề thân phận con người. Từ Sao Mai đến Ngô Văn Phú, Vũ Đình Minh, Hoàng Bình Trọng, Nguyễn Mạnh Tuấn, Trương Vĩnh Tuấn, Xuân Mai, Nguyễn Nhuận, Hồng Phương… lực lượng sáng tác văn xuôi Vĩnh Phúc đã ngày càng đông đảo. Truyện ngắn và tiểu thuyết Vĩnh Phúc đã mở rộng diện bao quát đời sống với nhiều phong cách khá độc đáo. Ngô Văn Phú tìm đến thể loại truyện - kí lịch sử như một cách thức tiếp cận đời sống dân tộc. Vũ Đình Minh tuy sống xa quê nhưng không vì thế mà sáng tác của ông thiếu những liên hệ với quê hương Vĩnh Phúc. Truyện ngắn Vũ Đình Minh thường đem đến một không gian nông thôn yên ả với những người dân bình dị, chất phác đang phải vật lộn với những biến động trong đời sống, trong những thay đổi về quan niệm thế sự nhân sinh. Hoàng Bình Trọng và Trương Vĩnh Tuấn thống nhất với nhau ở đề tài dành cho trẻ thơ. Nhưng nếu như Hoàng Bình Trọng tìm đến một kết cấu giản dị một câu chuyện gần gũi thường ngày thì Trương Vĩnh Tuấn lại đào sâu vào vấn đề tâm hồn trẻ thơ, lắng nghe nhịp cảm nghĩ của trẻ thơ để đồng cảm và chia sẻ…Trong số các tác giả này, nổi bật là trường hợp Nguyễn Mạnh Tuấn. Ở những truyện ngắn giai đoạn đầu, chất trữ tình hầu như vẫn là cảm hứng chủ đạo. Nhưng từ khi bước sang viết tiểu thuyết, Nguyễn Mạnh Tuấn có cái nhìn táo bạo và tinh nhạy hơn hẳn. Bộ ba tiểu thuyết Những khoảng cách còn lại, Đứng trước biển Cù lao tràm đã tạo nên một "làn sóng" hiếm thấy trong đời sống tiếp nhận văn học những năm tiền đổi mới và đầu đổi mới. Có thể nói, ý thức đào sâu vào các vấn đề thời sự cùng khả năng nắm bắt mạch chảy của đời sống khá nhạy bén đã làm cho tiểu thuyết của Nguyễn Mạnh Tuấn là những "tín hiệu mới" trong văn học. Mặc dù trong tiểu thuyết Nguyễn Mạnh Tuấn, chất báo chí và kí sự khá nổi bật, nhưng đó là một dẫn chứng tiêu biểu cho sự tham gia của văn học vào đời sống chính trị - xã hội của đất nước .

Về thơ ca, văn học Vĩnh Phúc hiện đại cũng cũng có những thành tựu đáng chú ý, nhất là từ thời kì chống Mỹ. Sự xuất hiện của Ngô Văn Phú có ý nghĩa như là những dự báo đầu tiên để xuất hiện một phong trào thơ trẻ thời kỳ chống Mỹ. Đến Hữu Thỉnh, thơ Vĩnh Phúc đã có một gương mặt thực sự nổi bật. Thơ Hữu Thỉnh sắc sảo mà đằm thắm, giàu chất suy tư và đậm đà màu sắc dân gian. Điều đó làm cho thơ Hữu Thỉnh khác hẳn với chất lính tráng tinh nghịch của nhà thơ người Thanh Ba - và ra mắt hồi kí về Bác ngay khi Người qua đời thể hiện được lòng kính yêu của tác giả nói riêng và nhân dân Việt Nam nói chung. Dù xuất hiện vào cuối giai đoạn chống Mỹ nhưng thơ Hữu Thỉnh có những nét riêng cùng với Bằng Việt, Xuân Quỳnh, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Khoa Điềm... Với những thành tựu thơ ca, Hữu Thỉnh đã được trao giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật và giải thưởng ASEAN.

Từ khi hòa bình lập lại, thơ Vĩnh Phúc có sự góp mặt của những cây bút đã trở thành quen thuộc với nhiều người như Vũ Duy Thông, Hoàng Hữu, Vũ Đình Minh, Trương Vĩnh Tuấn, Dương Kiều Minh, Nguyễn Hữu Hà...Giống như Hữu Thỉnh nhớ mẹ: Mẹ đang đi gánh rạ giữa đồng/ rạ chẳng nặng mà  nặng nhiều vì gió, Vũ Duy Thông có câu thơ thấm thía về quê hương: Ngoài quê dạo này rét gió/ Thèm chút hoa bèo đỡ tối đường ao. Dường như trong lòng mỗi nhà thơ Vĩnh Phúc luôn ấp ủ sẵn một tấm tình quê chan chứa, chỉ cần một tác động nhỏ là cảm xúc lại ùa về: Thôi cứ là cau vườn/ Nhích lên từng đốt một/ Trời chỉ cho một búp/ Gắng gỏi mà xanh tươi (Vũ Duy Thông). Nhưng không chỉ với những tác giả là người Vĩnh Phúc mới có cảm xúc ấy, những người lên sinh sống và lập nghiệp ở đây cũng yêu tha thiết mảnh đất này. Trong số các thi sĩ đến Vĩnh Phúc, Hoàng Hữu là một cây bút thực tài. Thơ Hoàng Hữu thường trôi về phía ảo: Người xa như phất hồn lau gió/ Thổi trắng chân đồi như khói pha. “Lau” và “trăng” đã là hai hình ảnh ám ảnh nhất trong sáng tác của Hoàng Hữu. Lau gợi về đồi núi, làm người đọc liên tưởng đến núi và tạo cảm giác buồn hắt hiu. Trăng nói về sự thanh trong, cô đơn và khát khao hòa nhập, khát khao kiếm tìm cái Đẹp: Vầng trăng rất thật kia cũng mới chỉ vầng trăng/ Cá quẫy sóng cho tan rồi lắng lại/ Để hiện giữa rong rêu chói lói/ Một vùng trăng cho cá suốt đời tìm . Từ cuộc sống mang sẵn hồn thơ nhạc của đất trung du, qua cảm nhận tinh tế của Hoàng Hữu, người đọc như bị hút hồn bởi những vần thơ giàu chất tạo hình mà lãng đãng khói sương của cây bút có nhiều duyên nợ với hội họa này.

Bên cạnh dòng thơ thế sự, trữ tình, thơ thiếu nhi Vĩnh Phúc cũng có những đóng góp quan trọng với sự góp mặt của Vũ Duy Thông, Trương Vĩnh Tuấn, Hoàng Tá, Ngân Vịnh...Nếu như Nguyễn Hữu Hà, Nguyễn Cảnh Tuấn, Bùi Đăng Sinh, Tạ Thu Yên... chủ yếu sáng tạo trên nền thi pháp truyền thống thì Dương Kiều Minh lại hướng về phong cách hiện đại. Dù lấy chất liệu từ huyền thoại, từ cội nguồn quá khứ hay hướng đến những vấn đề của đời sống hiện đại, Dương Kiều Minh vẫn thường triển khai ý tưởng thơ qua những liên tưởng thú vị, bất ngờ và cách biểu đạt khá mới lạ.

Trong lĩnh vực sáng tác kịch bản sân khấu và kịch bản phim truyện, nhiều nhà văn Vĩnh Phúc cũng tham gia thử bút và có người tỏ ra chuyên chú với bộ phận này. Tiêu biểu hơn cả là Hà Đình Cẩn và Nguyễn Mạnh Tuấn. Mảng dịch thuật cũng có những đóng góp đáng quí của nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu sinh ra và trưởng thành ở Vĩnh Phúc như Ngô Linh Ngọc, Trần Đình Hiến, Nguyễn Văn Dân... Bên cạnh sáng tác, cũng phải kể đến sự phát triển của bộ phận nghiên cứu lí luận, phê bình văn học với những cây bút như Phan Trọng Thưởng, Nguyễn Văn Đàn, Nguyễn Kim Hồng, Lâm Quý...Họ đều là những người không chỉ có tiếng nói đối với văn học Vĩnh Phúc mà còn có tiếng nói trong đời sống lí luận, phê bình văn học Việt Nam hiện nay.

Năm 1975, khi toàn Đảng, toàn quân toàn dân ta đang hừng hực khí thế tiến công thần tốc của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, cho đại thắng mùa xuân  giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Ở hậu phương Vĩnh Phú, được sự chỉ đạo của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh, tại thành phố Việt Trì, Hội Văn nghệ tỉnh Vĩnh Phú đã Đại hội ra mắt lần thứ nhất vào ngày 04/03/1975, với sự có mặt của 121 hội viên đầu tiên, là tiền thân của Hội Văn học Nghệ thuật Vĩnh Phúc ngày nay. Đây là Đại hội mang tính lịch sử, trong thời khắc lịch sử vẻ vang của đất nước. Phần lớn anh chị em văn nghệ sĩ lớp đầu tiên là những người đã kinh qua chiến tranh, có vốn sống và kinh nghiệm phong phú. Đại hội lần thứ nhất đã bầu ra 21 uỷ viên BCH, đồng chí Trần Quốc Phi, Phó Chủ tịch UNBD tỉnh được bầu làm Chủ tịch hội. Cho đến nay, Hội Văn học Nghệ thuật Vĩnh Phúc đã qua VII lần Đại hội.   

Hơn 3 thập kỷ qua, dù trong hoàn cảnh nào, Hội VHNT Vĩnh Phúc vẫn bám sát dòng mạch chính là chủ nghĩa yêu nước và nhân văn, nêu cao nhiệm vụ tuyên truyền đưa chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chủ trương của Đảng chính sách pháp luật của Nhà nước đến với các tầng lớp nhân dân; nỗ lực phản ánh sinh động thực tế hào hùng cuộc sống đấu tranh cách mạng, cũng như thực tiễn sôi động trong lao động sáng tạo của sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; phát hiện và cổ vũ động viên, nhân rộng các nhân tố mới, những điển hình tiên tiến, những gương người tốt việc tốt trong cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, trong sự nghiệp CNH – HĐH của tỉnh; trong phong trào xây dựng nông thôn mới, xây dựng đời sống văn hoá trong nhân dân, góp phần khơi dậy và làm sôi động các phong trào thi đua yêu nước trên tất cả các lĩnh vực của cuộc sống. Văn học Nghệ thuật Vĩnh Phúc còn thực hiện tốt chức năng là diễn đàn Văn học, nghệ thuật, thể hiện ý chí, tình cảm, nguyện vọng chính đáng của các tầng lớp nhân dân. Chủ nghĩa nhân văn, phẩm chất nhân đạo, giá trị Chân - Thiện - Mỹ được phát huy và đề cao. Đồng thời, Văn học Nghệ thuật Vĩnh phúc đã tích cực đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng, lãng phí, phê phán, đẩy lùi những cái xấu, cái ác, sự biến chất và thoái hoá về nhân cách của một bộ phận trong xã hội; đấu tranh lên án các tệ nạn xã hội, góp phần làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn, môi trường xã hội trong lành hơn, đấu tranh phản bác các luận điệu vu cáo, xuyên tạc của các thế lực thù địch, chống phá sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta; động viên nhân dân hăng hái thi đua thực hiện thắng lợi các mục tiên KH – XH mà Đại hội Đảng đã đề ra, góp phần xây dựng một nước Việt Nam “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh”.

Đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà không ngừng được phát triển cả về số lượng và chất lượng. Từ chỗ chỉ có trên 30 hội viên (năm 1997) đến nay Vĩnh Phúc đã có 129 hội viên, thuộc 8 chuyên ngành: Văn xuôi, Thơ, Âm nhạc, Nhiếp ảnh, Mỹ thuật, Sân khấu, Lý luận phê bình, Văn nghệ dân gian. Trong đó, trên 50 hội viên được kết nạp vào các hội chuyên ngành Trung ương. Sinh hoạt ở 6 chi hội Trung ương gồm: Chi hội Nhà văn Việt Nam, Chi hội Mỹ thuật Việt Nam, Chi hội Nhạc sỹ Việt Nam, Chi hội nghệ sỹ Nhiếp ảnh Việt Nam, Chi hội VNDG Việt Nam, Chi hội VHNT các dân tộc thiểu số Việt Nam.

Hội Văn học Nghệ thuật Vĩnh Phúc đã không ngừng đổi mới nội dung và hình thức hoạt động; từ việc tạo điều kiện cho hội viên sáng tác và phổ biến tác phẩm. Hoạt động của Hội ngày càng phong phú, sinh động hơn. Hàng năm, Hội thường xuyên tổ chức các đợt học tập quán triệt chủ trương, đường lối của Đảng, nhất là các Nghị quyết về Văn hoá – Văn nghệ; tổ chức các trại sáng tác, phát động các cuộc thi sáng tác văn học nghệ thuật; tổ chức cho hội viên đi thực tế, trao đổi kinh nghiệm, giao lưu với văn nghệ sỹ các Hội Văn học Nghệ thuật trong nước và các trại sáng tác của các tỉnh và Trung ương. Nhiều cuộc hội thảo đã được đông đảo các Nhà văn, nhà thơ, các nhà nghiên cứu tham gia. Đó là chưa kể sự tham gia của hội viên qua các đợt tham gia sáng tác, triển lãm tập thể và cá nhận do UBTQ Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam, các Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh bạn phát động . Từ năm 1997 đến nay, toàn tỉnh có trên 200 lượt văn nghệ sỹ đạt giải thưởng ở tỉnh, khu vực, trong nước và quốc tế. Mỗi hội viên Hội VHNT tỉnh, ít nhất đến nay đã ra được một tác phẩm văn học, nhiều nhất có 10 tác phẩm hoặc công trình nghệ thuật đã góp phần làm nên diện mạo của văn hoá Vĩnh Phúc, thể hiện chủ trương đúng đắn của Đảng là tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hoá – văn nghệ là nền tảng tinh thần của xã hội.

Những kết quả đạt được thể hiện sự đóng góp to lớn của đội ngũ văn nghệ sỹ Vĩnh Phúc, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ghi nhận sự đóng góp của Hội Văn học Nghệ thuật Vĩnh Phúc, UBND tỉnh Vĩnh Phúc, UBTQ Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam đã tặng cho Hội nhiều Cờ thi đua và Bằng khen. Đặc biệt, năm 2009 Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh đã được Hội đồng thi đua đề nghị Chính Phủ tặng Bằng khen đã hoàn thành tốt nhiệm vụ công tác xây dựng Hội.

Năm 2011, Hội Văn học Nghệ thuật Vĩnh Phúc đã tổ chức được những hoạt động ở tất cả các lĩnh vực văn học và nghệ thuật. Các hoạt động vừa có bề rộng vừa có chiều sâu, tạo được không khí phấn khởi, đoàn kết, tin yêu trong hội viên. Các hoạt động của Hội đã bám sát các nhiệm vụ chính trị - kinh tế – xã hội của tỉnh. Các tác phẩm văn học nghệ thuật đều bám sát định hướng của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước…

Theo CTT-GTĐT Vĩnh Phúc

Các tin đã đưa ngày: