Fenpát - khoáng sản có tiềm năng ở Vĩnh Phúc

09/04/2013

Fenpát là một nhóm khoáng vật có công thức hóa học: a(b+08) trong đó a gồm các nguyên tố K; Na; Ca; Ba; b gồm các nguyên tố Si; Al.Fenpát còn chứa một lượng nhỏ các nguyên tố xen lẫn như sắt, liti, rubi, mage…Fenpát kết tinh trong hệ một nghiêng hoặc ba nghiêng. Tinh thể có cấu trúc khung. Ô mạng cơ sở có kích thước gần nhau. Fenpát có màu nhạt hoặc sẫm, ánh thủy tinh, độ cứng 6, tỷ trọng 2,6-3,4, có tính giòn. Fenpát có mặt trong nhiều loại đá nhất là đá macma và đá biến chất. Xét về số lượng Fenpát chiếm gần 50% trọng lượng vỏ quả đất.

Có giá trị hơn cả đối với công nghệ sứ gốm và thuỷ tinh là Fenpát kali-natri. Lượng Fenpát đưa vào thành phần nguyên liệu sứ gốm phụ thuộc vào từng mặt hàng. Đối với sứ khoảng 30%, trong thành phần của men từ 33-46%, đối với sành 20-22%. Trong thành phần thuỷ tinh các ôxit như: SiO2, Al2O3, Na2O, CaO và MgO là những yếu tố chính. Ý nghĩa quan trọng nhất để đánh giá lợi ích của Fenpát và pecmatit dùng để nấu thuỷ tinh là hàm lượng K2O và Na2O cao nhất.

Trong sản xuất men đục, (khác với men bóng trong suốt dùng để tráng sành sứ), men đục được dùng để tráng đồ gang và sắt, chúng được làm đục bằng máy khử âm đặc biệt. Fenpát tham gia vào thành phần men đục làm tăng độ sệt và sức bền hoá học của nó. Thành phần fenpát trong men đục thay đổi từ 12-30% đối với đồ gang, từ 20-30% đối với đồ sắt.

Trong công nghệ sản xuất vật liệu mài fenpát được sử dụng làm chất gắn khi chế tạo đĩa mài. Hàm lượng fenpát trong mạng liên kết các bột mài thay đổi từ 28-45%. Ngoài ra fenpát còn được sử dụng trong công nghệ sản xuất xà phòng, làm răng giả, làm chất bồi lấp khi chế tạo thuỷ tinh opan, ngói lợp hình máng, bê tông, xi măng, thuốc nhuộm, sản xuất cực điện, buzi đánh lửa và gạch tráng men, gạch lát nền…

Đánh giá mặt kỹ luyện của fenpát là độ nóng chảy, khoảng nhiệt độ mềm ra và độ sệt khi chảy lỏng. Tóm lại fenpát là chất giúp chảy trong quá trình nung các sản phẩm sứ gốm và thuỷ tinh. Chất lượng fenpát và lợi ích của nó phụ thuộc vào thành phần hoá học cũng như tính chất của các tạp chất có trong fenpát khi được hình thành từ mỏ. Mỗi loại sản phẩm mà fenpát có tham gia trong thành phần phối liệu đều đòi hỏi chất lượng fenpát phải phù hợp với thành phần các phối liệu khác. Một mỏ fenpát không thể đáp ứng được mọi yêu cầu của nhà sản xuất về chất lượng mà phải tổ chức nghiên cứu chất lượng để chọn cách phân loại và tuyển khoáng hợp lý, sử dụng được nhiều tài nguyên nhất.

Tỉnh Vĩnh Phúc có một phức hệ đá cổ tử Prôtêrôzôi (PR), kéo dài từ Lập Thạch qua Vĩnh Yên đến Phúc Yên. Trong phức hệ này có chứa các khối đá macma xâm nhập thành phần axit như khối granit núi Sáng, núi Bầu, núi Ngang và khối Định Trung. Xung quanh các khối macma này các hoạt động pecmatit đã sản sinh ra một số mỏ fenpát có giá trị công nghiệp. Từ năm 1997, khi tỉnh Vĩnh Phúc được tái lập, Ngành công nghiệp đã cấp phép khai thác tận thu 5 mỏ (Lập Thạch 4 mỏ, Tam Dương 1 mỏ) với tổng trữ lượng trên 430 ngàn tấn quặng. Đối với các mỏ fenpát có nguồn gốc pecmatit hay granít ở thế giới và Việt Nam trước khi đưa vào khai thác đều phải qua thăm dò để nghiên cứu chất lượng, tính toán trữ lượng. Hội đồng xét duyệt trữ lượng cấp quốc gia hoặc khu vực thẩm định và phê chuẩn. Riêng các mỏ fenpát ở Vĩnh Phúc, sau khi phát hiện, các chủ đầu tư làm thủ tục xin phép khai thác, tận thu ngay, đốt cháy nhiều giai đoạn trong quy trình. Một số mỏ có chất lượng không ổn định, quy mô thay đổi phức tạp dẫn đến những thiệt hại kinh tế và công sức của nhà đầu tư, lãng phí tài nguyên khoáng sản. Ở mỏ Khe Dọc (Lập Thạch) chủ mỏ đã bốc hàng ngàn mét m3 đất mà chỉ gặp được những ổ quặng nhỏ không đủ công suất khai thác. Công ty TNHH chế biến xuất nhập khẩu khoáng sản Vĩnh Phúc đã khai thác hàng ngày tấn quặng fenpát ở gò Gai thôn Quan Nội, xã Tam Quan (Tam Dương), không đầu tư nghiên cứu chất lượng đầy đủ theo khoa học. Khi tiêu thụ sản phẩm doanh nghiệp gặp phải khó khăn. Những mặt hàng có nhu cầu sử dụng fenpát lớn như gạch lát nền của Vĩnh Phúc cũng đã từ chối hàng ngàn tấn quặng mà công ty chuyển đến, làm thiệt hại lớn cho công ty về uy tín và cả về kinh tế.

Để định hướng cho sự phát triển các mỏ fenpát ở Vĩnh Phúc theo hướng bền vững, Sở Khoa học và Công nghệ đã xây dựng đề tài “nghiên cứu chất lượng và quy mô phân bố các mỏ fenpát ở Vĩnh Phúc, đề xuất mục đích sử dụng và phương pháp khai thác hợp lý”. Đề tài sẽ giúp cho việc cấp phép và tổ chức khai thác các mỏ fenpát của địa phương, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Bảo vệ được tài nguyên khoáng sản của Vĩnh Phúc (vốn đã không nhiều) cũng như môi trường nơi khai thác mỏ không bị huỷ hoại./.

Kỹ sư Nghiêm Xuân Thịch                
(Thông tin Khoa học và Công nghệ số 1-2004)

Các tin đã đưa ngày: