Khoa học và công nghệ Vĩnh Phúc phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa

21/05/2014

Ths. Ngô Khánh Lân

TUV, Giám đốc Sở KH&CN Vĩnh Phúc

Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 31/10/2012 Hội nghị Trung ương 6 khóa XI về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đã xác định: “Phát triển và ứng dụng khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc; là một nội dung cần được ưu tiên tập trung đầu tư trước một bước trong hoạt động của các ngành, các cấp. Sự lãnh đạo của Đảng, năng lực quản lý của Nhà nước và tài năng, tâm huyết của đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ đóng vai trò quyết định thành công của sự nghiệp phát triển khoa học và công nghệ”.

Quán triệt quan điểm trên của Đảng, trong những năm qua, hoạt động KH&CN Vĩnh Phúc đã đạt được những kết quả nổi bật sau:

- Làm tốt công tác tham mưu cho Tỉnh ủy, UBND tỉnh ban hành các văn bản: Kết luận số 01-KL/TU ngày 15/3/2011 về thực hiện Nghị quyết 13-NQ/TU ngày 03/12/2002 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về phát triển khoa học, công nghệ và môi trường đến năm 2010, định hướng phát triển khoa học, công nghệ và môi trường trong thời gian tới; đặc biệt là: Chương trình hành động số 42-CTr/TU thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; Quy hoạch phát triển KH&CN tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2020, tầm nhìn 2030; kế hoạch triển khai thực hiện Chương trình hành động số 42-CTr/TU ngày 31/01/2013; kế hoạch triển khai áp dụng ISO hành chính công đối với các cơ quan hành chính cấp Tỉnh, UBND huyện, thành, thị, UBND các xã, phường.

- Hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ có bước phát triển mạnh, lấy việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật, các mô hình có hiệu quả kinh tế vào thực tiễn sản xuất và đời sống làm tiêu chí tuyển chọn để triển khai, thực hiện. Kết quả trên từng lĩnh vực như sau:

* Trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn

Tiến hành điều tra, sưu tầm, nghiên cứu và đề xuất các giải pháp bảo tồn sắc phong cổ, văn miếu, tín ngưỡng thờ thành Hoàng làng, hệ thống văn bia đá trên địa bàn Tỉnh; nghiên cứu, biên soạn lịch sử một số xã truyền thống của Tỉnh, sưu tầm những câu truyện cổ; nghiên cứu, phân loại lập bản đồ khảo cổ học của Tỉnh. Đã tiến hành nghiên cứu, in, xuất bản và phát hành Địa chí Vĩnh Phúc. Đề xuất các giải pháp xóa đói, giảm nghèo, nâng cao chất lượng công tác dân vận, giải quyết khó khăn, vướng mắc của đồng bào dân tộc thiểu số và vùng núi, công tác phối hợp trong đền bù, giải phóng mặt bằng, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh (PCI) của Tỉnh; Chú trọng tới công tác bảo đảm an ninh chính trị, an ninh thông tin, đấu tranh chống tội phạm đảm bảo an ninh quốc gia trên địa bàn Tỉnh. Nâng cao hiệu quả đối với việc phòng chống tham nhũng trong giai đoạn hiện nay...

* Trong các lĩnh vực nông lâm nghiệp

Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật về mật độ cấy lúa và điều tiết nước giai đoạn cuối đẻ nhánh; các tiến bộ kỹ thuật mới để nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cho cây lúa và lạc trên đất bạc màu, khó khăn về nước tưới. Triển khai, xây dựng các mô hình: thử nghiệm trồng mây dưới tán cây lâm nghiệp, trồng cỏ giàu đạm VA06, cà chua ghép trái vụ, trồng mía trên các vùng đất gò đồi bạc màu, mô hình phát triển các giống bưởi đặc sản, chất lượng cao (bưởi Diễn, bưởi Da xanh) để sản xuất hàng hóa. Khảo nghiệm, lựa chọn và đưa vào gieo trồng thử nghiệm các giống lúa chất lượng cao như: lúa nếp BN4, BN15; Hoa khôi 4... các giống lúa có thời gian sinh trưởng ngắn như PC6, P6ĐB. Tuyển chọn các giống lúa có khả năng phù hợp với thổ nhưỡng của từng địa phương như Hoa ưu 109, NB-01, LCH33, VD88, Lth31...phù hợp với vùng núi và vùng đất nghèo dinh dưỡng như ở huyện Lập Thạch...

Nghiên cứu khả năng thích nghi một số giống vật nuôi, thủy sản thích hợp với điều kiện khí hậu của vùng và cho giá trị kinh tế như: lợn ngoại, gà, rắn (hổ mang chúa), cá hồi, cá tầm, cá lăng chấm, cá rô phi đơn tính dòng Đường Nghiệp. Xây dựng, bảo hộ và phát triển nhãn hiệu cho sản phẩm truyền thống của Tỉnh: cá Thính Lập Thạch, Thanh long ruột đỏ.

* Trong lĩnh vực công nghiệp, xây dựng, giao thông

Xây dựng mô hình cung cấp năng lượng tái tạo phục vụ cho một số bản làng, nâng cao đời sống của người dân vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc; giải pháp mở rộng và nâng cao phạm vi khai thác sử dụng thiết bị trong tự động hoá dùng chương trình điều khiển logic (PLC). Triển khai ứng dụng các phần mềm trong xây dựng cơ bản; phần mềm quản lý, giám sát công tác đào tạo, sát hạch lái xe ô tô, mô tô và hỗ trợ công tác quản lý cấp giấy phép lái xe. Ứng dụng vật liệu mới Carboncor Asphalt trong làm đường giao thông và các thiết bị giám sát hành trình các tuyến xe của các doanh nghiệp vận tải... đem lại hiệu quả tốt.

* Trong lĩnh vực dịch vụ

Nghiên cứu thành công việc di thực sâm Ngọc Linh từ tỉnh Quảng Nam về vùng núi Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc. Ứng dụng có hiệu quả sản phẩm cacbon y sinh, các bài thuốc đông y, các phương pháp nội soi phế quản, phẫu thuật sỏi túi mật... Nghiên cứu và đưa ra giải pháp hữu ích trong phòng chống các loại bệnh hay gặp như: bệnh tim mạch, bệnh thoái hóa xương khớp, trẻ đẻ nhẹ cân, trẻ em suy dinh dưỡng... vì vậy đã góp phần nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh cho nhân dân.

* Lĩnh vực bảo vệ môi trường và phát triển bền vững

Nghiên cứu, đánh giá hiện trạng thảm phủ thực vật và xói mòn đất; các biện pháp kỹ thuật và công nghệ khai thác sử dụng có hiệu quả tài nguyên đất dốc của Tỉnh. Triển khai có hiệu quả mô hình xử lý rác thải sinh hoạt nông thôn bằng công nghệ đốt khí tự nhiên NFI; mô hình đệm lót sinh học trong chăn nuôi gà và lợn. Ứng dụng chế phẩm vi sinh Biomix1 trong xử lý môi trường nông thôn đem lại đạt hiệu quả cao. Với tính hiệu quả của chế phẩm Biomix1, năm 2013 Trung tâm Ứng dụng Tiến bộ KH&CN Vĩnh Phúc, đơn vị trực tiếp thực hiện dự án đã được trao giải thưởng “Nhân tài đất Việt” về lĩnh vực môi trường.

- Tiềm lực KH&CN (cơ sở vật chất, trang thiết bị, năng lực của đội ngũ cán bộ) của các tổ chức KH&CN, các cơ quan đơn vị được tăng cường, chất lượng, hiệu quả quản lý nhà nước ngày càng được nâng lên. Nhờ được đầu tư với nhiều thiết bị hiện đại, cán bộ làm chủ được công nghệ, khai thác, sử dụng thành thạo nên công tác khám, chữa bệnh của các đơn vị y tế trên địa bàn Tỉnh được nâng lên, góp phần giảm tải cho các bệnh viện tuyến trung ương; ý thức, tinh thần học tập trong giáo dục phổ thông; chất lượng dạy và học tại các trường đào tạo nghề, năng suất, chất lượng trong các lĩnh vực khác đều tăng lên rõ rệt, khẳng định tính hiệu quả của các dự án đầu tư thời gian qua (Trường Cao đẳng nghề Việt Đức-Vĩnh Phúc đã hình thành Trung tâm công nghệ cao về cơ khí, ngoài việc phục vụ tốt cho công tác giảng dạy, học tập, nhà trường còn đào tạo cán bộ kỹ thuật cho các doanh nghiệp cơ khí trên địa bàn Tỉnh; năm 2013, Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Vĩnh Phúc có 3 đội tham gia Vòng chung kết Robocon 2013 tại Đà Nẵng, trong đó 02 đội lọt vào vào vòng 1/16, 1 đội lọt vào vòng 1/8).

- Năng suất, chất lượng, hàm lượng KH&CN trong một số sản phẩm chủ lực của Tỉnh như ô tô, xe máy, điện, điện tử, vật liệu xây dựng; một số giống cây trồng, vật nuôi, ngày càng tăng, thể hiện sự đóng góp, tác động tích cực của KH&CN.

- Hiệu lực, hiệu quả của các hoạt động quản lý nhà nước về KH&CN trên các lĩnh vực: quản lý công nghệ, an toàn bức xạ hạt nhân, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng ngày càng được nâng lên. Chỉ số cạnh tranh trong lĩnh vực KH&CN ngày càng được cải thiện, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trên địa bàn nâng cao chất lượng sản phẩm, hàng hóa.

- Các cơ quan trong Tỉnh tích cực triển khai, áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008 trong quản lý điều hành, qua đó góp phần cải cách thủ tục hành chính. Hoạt động KH&CN đã có sự phối hợp tốt với các cơ quan, đơn vị trong và ngoài Tỉnh.

- Đầu tư tài chính cho KH&CN ngày càng được quan tâm, đầu tư. Hoạt động dịch vụ KH&CN được tăng cường và có bước phát triển.

Tuy nhiên, hoạt động KH&CN thời gian qua còn một số hạn chế sau:

Nguồn nhân lực khoa học và công nghệ của Tỉnh còn thiếu và yếu; chưa có nhiều chuyên gia giỏi trên các lĩnh vực. Trình độ công nghệ của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh nhìn chung còn thấp, việc đổi mới công nghệ còn chậm, sức cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa hạn chế. Chưa hình thành được thị trường công nghệ, hoạt động chuyển giao công nghệ còn thấp, chủ yếu ở một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài...

Xác định khoa học và công nghệ là động lực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nói chung, của Tỉnh nói riêng, góp phần thắng lợi vào mục tiêu: “Xây dựng Vĩnh Phúc cơ bản trở thành một tỉnh công nghiệp vào năm 2015, tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 và trở thành thành phố Vĩnh Phúc vào những năm 20 của thế kỷ XXI” như Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Tỉnh lần thứ XV đã nêu, KH&CN Vĩnh Phúc thời gian tới tập trung vào thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm như sau:

- Công tác tham mưu: Rà soát, tham mưu cho UBND Tỉnh ban hành, sửa đổi các văn bản quy định về quản lý đề tài KH&CN, cơ chế quản lý Quỹ phát triển KH&CN sau khi có các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Khoa học và Công nghệ, Nghị định số 08/2014/NĐ-CP ngày 27/01/2014 của Chính phủ quy định và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khoa học và Công nghệ. Tiếp tục triển khai, thực hiện Chương trình hành động số 42-CTr/TU ngày 31/01/2013 của BCH Đảng bộ Tỉnh thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; Quy hoạch phát triển KH&CN đến năm 2020, tầm nhìn 2030. Tham mưu cho UBND Tỉnh ban hành Kế hoạch triển khai, áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến theo tiêu chuẩn ISO9001:2008 tại các cơ quan hành chính công.

- Công tác quản lý Nhà nước: Tiếp tục đổi mới phương thức tuyển chọn các nhiệm vụ KH&CN, khuyến khích phương thức đặt hàng nghiên cứu KH&CN phục vụ phát triển kinh tế-xã hội. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN. Tham gia thẩm định công nghệ các dự án đầu tư khi có yêu cầu. Cấp Giấy phép sử dụng thiết bị X-quang cho các đơn vị đủ hồ sơ, thủ tục. Hướng dẫn các đơn vị doanh nghiệp, cá nhân xác lập quyền sở hữu công nghiệp. Thanh tra việc thực hiện chính sách pháp luật về tiêu chuẩn đo lường, chất lượng hàng hoá, sở hữu trí tuệ, an toàn bức xạ của các đơn vị, tổ chức, cá nhân trên địa bàn Tỉnh.... Đẩy mạnh các hoạt động tư vấn, dịch vụ KH&CN

- Công tác nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ: Tập trung vào các nhiệm vụ trong tâm thuộc lĩnh vực sau:

* Lĩnh vực nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới

Xây dựng và hình thành các vùng sản xuất hàng hóa chuyên canh, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật mới để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả cây trồng trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Xây dựng và nhân rộng các mô hình sản xuất ứng dụng công nghệ cao và công nghệ phù hợp có hiệu quả (mô hình trồng rau, hoa trong nhà lưới, nhà kính...). Nhân rộng các mô hình hiệu quả về chăn nuôi lợn, gia cầm có quy mô tập trung công nghiệp, công nghệ hiện đại, đồng thời áp dụng các biện pháp phòng chống dịch bệnh cho gia súc, gia cầm để tạo ra các sản phẩm chăn nuôi của Vĩnh Phúc an toàn, sạch, chất lượng tốt, có thương hiệu cung cấp cho thị trường trong nước và tiến tới xuất khẩu...

* Lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn

Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp nhằm phát huy các lợi thế của Tỉnh trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa. Đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế, chính sách trong phát triển kinh tế-xã hội, đặc biệt là các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Tiếp tục nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp Tỉnh. Nghiên cứu các vấn đề nhận thức của người dân đối với sự nghiệp công nghiệp hóa và đô thị hóa của Tỉnh và các vấn đề nảy sinh trong quá trình phát triển, làm cơ sở để Tỉnh ủy, HĐND và UBND Tỉnh đề ra các giải pháp đồng bộ góp phần phát triển kinh tế-xã hội...

* Lĩnh vực công nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải.

Nghiên cứu, xây dựng chính sách đặc thù để thu hút các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ cao đầu tư trên địa bàn Tỉnh. Khuyến khích đầu tư công nghệ sản xuất các loại vật liệu xây dựng mới thân thiện môi trường để triển khai, ứng dụng cho các công trình xây dựng, công trình giao thông. Ứng dụng công nghệ tự động hóa và công nghệ thông tin trong việc quản lý, giám sát các phương tiện giao thông công cộng nhằm nâng cao công tác an toàn cho người tham gia giao thông...

* Lĩnh vực dịch vụ

Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể tại địa phương; các giải pháp phát triển du lịch theo vùng trọng điểm gắn với lịch sử văn hóa, hạ tầng kỹ thuật. Nghiên cứu phát triển giáo dục - đào tạo theo hướng mở rộng quy mô hợp lý, đa dạng cơ cấu loại hình phát triển đào tạo, dạy nghề đáp ứng nhu cầu của xã hội trên cơ sở đảm bảo chất lượng, hiệu quả. Đẩy nhanh quá trình hiện đại hóa ngành y tế, nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe, đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của nhân dân. Đầu tư phát triển các dịch vụ: bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin với độ phủ rộng khắp, tốc độ và chất lượng theo hướng hiện đại...

* Lĩnh vực bảo vệ môi trường và phát triển bền vững

Nghiên cứu cơ chế tài chính và các chính sách khuyến khích đầu tư công nghệ hiện đại xử lý rác thải tại khu đô thị của Tỉnh. Nghiên cứu điều tra, đánh giá các loại hình thảm họa môi trường, trong đó có thảm họa ô nhiễm bức xạ hạt nhân do công nghiệp hóa, đô thị hóa và đề ra các giải pháp phòng ngừa, hạn chế thiệt hại do thảm họa môi trường gây ra...

Để hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ nêu trên, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nói chung, Vĩnh Phúc nói riêng, cần thực hiện tốt các giải pháp cụ thể là:

- Làm tốt công tác thông tin tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành về vai trò của KH&CN trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nói chung, của Tỉnh nói riêng. Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến các tiến bộ kỹ thuật, các kết quả nghiên cứu khoa học, các dự án đầu tư có hiệu quả để nhân ra diện rộng, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh, hiệu lực quản lý Nhà nước của các cơ quan, đơn vị.

- Tăng cường đầu tư phát triển tiềm lực khoa học và  công nghệ: Xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, đào tạo lại nguồn nhân lực KH&CN theo hướng bảo đảm chất lượng, đồng bộ, đủ về số lượng và cơ cấu ngành nghề chuyên môn đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh và hội nhập. Tăng cường đào tạo, thu hút cán bộ KH&CN có trình độ cao, các chuyên gia giỏi trong các lĩnh vực. Chú trọng đào tạo cán bộ trẻ, cán bộ đầu ngành trong các lĩnh vực công nghệ cao. Thực hiện tốt việc đa dạng hoá các nguồn vốn đầu tư cho hoạt động KH&CN; khuyến khích các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế tích cực đầu tư cho hoạt động KH&CN. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị cho các cơ quan, đơn vị, tổ chức KH&CN. Củng cố và phát triển hệ thống thông tin về KH&CN, chú trọng thông tin phục vụ xây dựng nông thôn mới.

- Xây dựng và phát triển thị trường khoa học và công nghệ: Đẩy mạnh việc thành lập các đơn vị dịch vụ chuyển giao công nghệ như: tư vấn, môi giới, đánh giá, thẩm định, giám định công nghệ; các dịch vụ về sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng; thành lập các doanh nghiệp KH&CN. Triển khai lập và sử dụng có hiệu quả Quỹ phát triển KH&CN của doanh nghiệp. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong việc cung cấp, trao đổi, giao dịch thông tin về KH&CN; ngăn chặn các sản phẩm, công nghệ lạc hậu, công nghệ gây nguy hại đến sức khỏe con người, tài nguyên, môi trường, an ninh, quốc phòng.

- Đẩy mạnh liên kết, hợp tác trong nước và quốc tế về khoa học và công nghệ: Mở rộng hợp tác với các tổ chức KH&CN ở Trung ương. Phát triển các hình thức hợp tác, liên kết, hợp đồng chuyển giao giữa các tổ chức KH&CN, các trường đại học, cao đẳng với doanh nghiệp, với các cơ sở sản xuất trên địa bàn Tỉnh. Tăng cường các nội dung hợp tác nhằm phát triển nguồn nhân lực, nâng cao năng lực và trình độ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, đào tạo và phát triển đội ngũ nhân lực có trình độ cao.

Phát huy những kết quả đạt được, những bài học kinh nghiệm và các yêu cầu đặt ra trong thời gian tới, toàn thể đội ngũ cán bộ KH&CN tỉnh nhà quyết tâm nỗ lực, phấn đấu, khắc phục khó khăn, vươn lên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, góp phần xây dựng quê hương Vĩnh Phúc ngày càng giàu đẹp./.

N.K.L

 

Các bài viết khác :
Các tin đã đưa ngày: