Quy trình kỹ thuật chăm sóc lúa nếp BN4 và BN15

13/06/2013

Các giống lúa BN4 và BN15 do Trung tâm Hỗ trợ Nghiên cứu Khoa học và Chuyển giao Công nghệ - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội II nghiên cứu và chọn tạo. Giống có thời gian sinh trưởng ngắn, có thể cấy được cả 2 vụ. Chịu rét tốt, chịu nóng khá, cây cứng, chống đổ khá, thích hợp trên nhiều loại đất, chất lượng gạo thơm ngon, năng suất trung bình 53-55 tạ/ha. Giống đã được trồng thử nghiệm tại Tam Dương, Bình Xuyên và Yên Lạc trong năm 2012 và được nông dân đánh giá là 2 giống lúa nếp tốt nhất  trong nhóm lúa nếp hiện đang trồng tại Vĩnh Phúc. Ban biên tập Thông tin Khoa học và Công nghệ xin giới thiệu với bạn đọc quy trình kỹ thuật chăm sóc 2 giống lúa nếp BN4 và BN15 như sau:

1. Kỹ thuật cấy:

- Tuổi mạ cấy: cấy mạ non có tuổi từ 10-15 ngày, cấy bằng mạ dày xúc.

- Mật độ cấy: 45khóm/m2. Cấy 1-2 dảnh/khóm.

- Cấy thành từng băng luống rộng từ 1,2-1,5m.

- Phương pháp cấy: Cấy nông tay và đều tay để lúa đẻ nhánh sớm, đẻ khỏe.

- Mực nước khi cấy: nên để ở mức 2-3 cm.

2. Kỹ thuật bón phân:

- Lượng phân cho 1 sào: 350-400 kg phân chuồng. Đạm: 6-8 kg + Lân: 20 kg + Kali: 6-8kg theo nguyên tắc: Bón sớm, bón tập trung và cân đối đảm bảo kịp thời dinh dưỡng của cây lúa, giảm thiểu tác hại của sâu bệnh. Lượng phân trên được chia thành 3 lần như sau:

- Bón lót: 100% phân chuồng + 100% phân Lân + 2kg Đạm.

- Bón thúc đẻ nhánh: 2,5-3kg Đạm + 3-3,5kg Kali.

- Bón thúc đòng: 1,5-2kg Đạm + 3-4kg Kali.

Sau khi lúa trỗ nên phun 1 lần phân bón qua lá bổ sung dinh dưỡng để nuôi hạt.

3. Điều tiết nước:

Phải thường xuyên kiểm tra đồng ruộng để điều tiết nước theo từng giai đoạn sinh trưởng và phát triển của cây lúa cho hợp lý.

- Thời kỳ lúa đẻ nhánh: Thường xuyên giữ mực nước từ 3 - 4cm. Khi cây lúa đẻ nhánh xong thì tiến hành rút nước phơi ruộng trong khoảng thời gian khoảng 5 đến 7 ngày, khi ruộng lúa rạn nứt chân chim tiến hành cho nước vào. Biện pháp này nhằm làm giảm khả năng đẻ nhánh vô hiệu của lá, giúp rễ lúa ăn sâu hơn, làm lúa cứng cây, tăng khả năng chống đổ.

- Thời kỳ làm đòng đến trỗ bông: Nên để mực nước thường xuyên từ 3-5 cm.

- Thời kỳ chín sữa, chín sáp: Giữ mực nước khoảng 3 cm. Trước khi thu hoạch từ 5-7 ngày tháo cạn nước phơi ruộng để thuận lợi cho quá trình thu hoạch lúa.

4. Phòng trừ sâu, bệnh hại:

+ Bệnh khô vằn: Bệnh được xếp vào loại bệnh nguy hiểm thứ 2 sau bệnh đạo ôn, cây lúa có thể giảm từ 20-25% năng suất khi bệnh phát triển đến lá đòng. Bệnh gây hại chủ yếu ở bẹ lá, phiến lá và cổ bông. Bệnh phát triển ở điều kiện nhiệt độ cao 24-320C, ẩm độ bão hòa. Phòng trừ bằng phương pháp cày sâu, cấy mật độ hợp lý, tăng cường bón kali và tro bếp, phụ trừ bằng thuốc Validamicin, Rovral.

+ Bệnh bạc lá: Bệnh gây hại chủ yếu ở lúa mùa vào thời kỳ làm đòng đến chín sữa. Điều kiện thích hợp ở nhiệt độ 26-300C, ẩm độ 80%, đất màu mỡ nhiều chất hữu cơ, bón nhiều đạm, giống lúa nhập nội dễ nhiễm hơn. Phòng trừ băng cách phun Kasuran.

+ Bệnh sâu cuốn lá nhỏ: Phun Padan, Regent, Sumithion. Phun sau khi thấy bướm rộ từ 5-7 ngày.

+ Sâu đục thân 2 chấm: Phun Padan, Regent, Basudin. Phun khi bướm rộ và sâu non mới nở từ 1-2 ngày tuổi.

BBT

Các bài viết khác :
Các tin đã đưa ngày: