Đẩy mạnh hoạt động KH&CN cấp cơ sở, góp phần phát triển kinh tế - xã hội

21/05/2014

Ths. Trần Nguyên Lý

TP. Quản lý KHCN Cơ sở

Trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng, Đảng ta xác định khoa học và công nghệ (KH&CN) là nền tảng và là động lực thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. KH&CN là nhân tố quan trọng góp phần tăng nhanh năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế, cho đất nước phát triển nhanh và bền vững. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ XV xác định “Đẩy mạnh các hoạt động KH&CN, ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đời sống. Tăng nhanh năng lực khoa học công nghệ, gắn với nâng cao hiệu quả ứng dụng. Tăng hàm lượng khoa học công nghệ trong các sản phẩm, tạo chuyển biến cơ bản về năng suất, chất lượng và hiệu quả ở một số ngành kinh tế quan trọng”, là một trong các nhóm giải pháp để thực hiện mục tiêu “Phấn đấu đến năm 2015 cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp, trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 và trở thành thành phố Vĩnh Phúc vào những năm 20 của thế kỷ XXI”.

Quán triệt quan điểm trên, trong những năm qua hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ ở các sở, ngành, huyện, thành phố, thị xã, các tổ chức KH&CN trong Tỉnh đã có những chuyển biến tích cực. Trong 3 năm 2011-2013, trên địa bàn đã triển khai thực hiện 184 đề tài cấp tỉnh, với kinh phí 42.895 triệu đồng và hàng ngàn sáng kiến cải tiến kỹ thuật được ứng dụng trong đời sống, lao động sản xuất đã đem lại hiệu quả rõ rệt, góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh.

Trên lĩnh vực nông lâm nghiệp, đã triển khai thực hiện 52 đề tài với kinh phí 22.050 triệu đồng (chiếm 28,2% số lượng đề tài và chiếm 51,28% kinh phí) nhằm chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hiệu quả, bền vững. Cụ thể:

- Về lĩnh vực trồng trọt: Nhiều đề tài nghiên cứu đã tập trung vào việc khảo nghiệm giống, kỹ thuật canh tác, chuyển đổi cơ cấu mùa vụ để tạo ra năng suất, chất lượng cao. Tiêu biểu là đề tài xây dựng mô hình trồng cà chua ghép trái vụ, đã cho năng suất 79,1 tấn/ha tăng 2,26 lần so với giống cà chua thông thường, giá trị sản lượng đạt 554 triệu/ha, thu nhập 432,77 triệu đồng/ha; mô hình trồng bí như giống bí đỏ lai F1 Gold star 998, F1 886; bí xanh Fuji 868, Tara 888, mỗi hecta cho thu nhập trên 200 triệu đồng; mô hình trồng Thanh Long ruột đỏ cho thu nhập từ 300 triệu đến 500 triệu đồng/ha.

- Về lĩnh vực chăn nuôi: Tập trung vào việc nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong việc lai tạo giống một số gia súc, gia cầm như lợn 5 máu năng suất chất lượng cao; bò BBB... có trọng lượng lớn và năng suất, chất lượng cao. Ngoài những nghiên cứu về giống, kỹ thuật chăn nuôi không ô nhiễm môi trường, hạn chế dịch bệnh trên gia súc gia, cầm cũng đã được các sở, ngành, huyện, thành, thị nghiên cứu thành công và nhân rộng mô hình như mô hình “Chăn nuôi trên nền đệm lót sinh học”, mô hình “Thức ăn sinh học dùng trong chăn nuôi lợn thịt tạo ra sản phẩm an toàn thực phẩm” hình thành nên chuỗi giá trị sản phẩm từ khâu sản xuất con giống đến khâu tiêu thụ sản phẩm, đưa chăn nuôi trở thành ngành sản xuất mũi nhọn của tỉnh. Đến năm 2013 chăn nuôi đã chiếm 53,43% giá trị sản xuất nông nghiệp, tương ứng với giá trị khoảng gần 6.000 tỉ đồng.

Trong lĩnh vực môi trường, đã triển khai ứng dụng công nghệ trong xử lý rác thải, nước thải sinh hoạt nông thôn, góp phần xử lý ô nhiễm môi trường; đã lựa chọn được mô hình xử lý rác thải sinh hoạt nông thôn bằng công nghệ đốt bằng khí tự nhiên phù hợp với quy mô xã, phường. Đến nay mô hình này đang được triển khai lắp đặt tại 20 xã điểm xây dựng nông thôn mới và đã xử lý cơ bản lượng rác thải sinh hoạt nông thôn.

Trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, nhiều khía cạnh của đời sống văn hóa, xã hội đã được các ngành, các cấp đề xuất, nghiên cứu. Trong đó, tập trung vào nghiên cứu, cụ thể hóa chủ trương, nghị quyết của Đảng, tổng kết, đánh giá thực tiễn các chính sách của Nhà nước trên địa bàn Tỉnh... đề xuất ban hành các cơ chế chính sách, đảm bảo chính sách an sinh xã hội và nâng cao đời sống nhân dân.

Phong trào thi đua lao động sáng tạo đã được đẩy mạnh ở một số cơ sở đào tạo và doanh nghiệp. Hằng năm, có hàng nghìn sáng kiến được áp dụng trong lao động sản xuất, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức và doanh nghiệp. Nhiều giải pháp đã giành được giải cao trong các cuộc thi như: Giải ba Hội thi Sáng tạo kỹ thuật toàn quốc lần thứ XI (2010-2011) cho giải pháp “cải tiến tiết kiệm nhiệt năng-điện năng giảm khí thải nóng ra môi trường của lò nung”; giải pháp nâng cao công suất, chất lượng và đa dạng mẫu mã của sản phẩm ceramic” của Công ty cổ phần tập đoàn Prime Group đã làm lợi cho công ty mỗi tháng hàng chục tỉ đồng; Giải thưởng Nhân tài Đất Việt lần thứ IX năm 2013 cho giải pháp “xử lý chất thải nông nghiệp để bảo vệ môi trường nông thôn” của Trung tâm Ứng dụng Tiến bộ KHCN Vĩnh Phúc, hay giải nhất Hội thi Thiết bị dạy nghề toàn quốc năm 2013 cho hệ thống lắp đặt và quản trị mạng máy tính của Trường Cao đẳng Nghề Việt-Đức; VTEC-RTC của trường Cao đẳng Kinh tế-Kỹ thuật Vĩnh Phúc lọt vào vòng chung kết và nhận giải phong cách trong cuộc thi sáng tạo Robocon 2013...

Có thể nói, trong thời gian qua, hoạt động KH&CN đã được các sở, ngành, huyện, thành, thị và các doanh nghiệp, tổ chức KH&CN quan tâm và đã đạt được những kết quả khá tích cực, góp phần quan trọng phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh. Tuy nhiên, hoạt động KH&CN cơ sở còn bộc lộ một số hạn chế cần khắc phục. Đó là:

- Hoạt động KH&CN ở các sở, ngành, đơn vị còn chưa đồng đều. Nhiều sở, ngành trong nhiều năm không đề xuất, triển khai được nhiệm vụ KH&CN nào. Hoạt động phát triển công nghệ chậm được đổi mới.

- Một số huyện, thành, thị chưa quan tâm đến việc nhân rộng các mô hình KH&CN đã được đánh giá là có hiệu quả, coi việc ứng dụng tiến bộ KH&CN là việc của tỉnh và của người sản xuất, không có bất cứ sự hướng dẫn, hoặc hỗ trợ nào.

- Phong trào nghiên cứu khoa học, sáng kiến, cải tiến kỹ thuật trong đào tạo, học tập và lao động sản xuất ở một số sở, ngành, huyện, thị, doanh nghiệp, cơ sở đào tạo và tổ chức KH&CN còn nhiều hạn chế, hiệu quả chưa cao, chưa được phát triển rộng khắp. Sự hỗ trợ của nhà nước đối với hoạt động này còn gặp khó khăn, hạn chế.

Để góp phần quan trọng vào việc hoàn thành các mục tiêu kinh tế - xã hội của ngành, địa phương và của Tỉnh, trong thời gian tới hoạt động KH&CN cơ sở cần tập trung giải quyết một số nhiệm vụ sau:

Một là, bám sát Nghị quyết số 20-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI và Chương trình hành động số 42-CTr/TU ngày 31/01/2013 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về phát triển KH&CN phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, để xây dựng kế hoạch, chương trình hành động phù hợp với điều kiện của ngành, địa phương.

Hai là, cần gắn kết chặt chẽ nghiên cứu KH&CN với thực tiễn; đẩy mạnh phong trào lao động sáng tạo, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật trong mọi tầng lớp nhân dân, nhằm phát huy được năng lực, sở trường của đội ngũ cán bộ công chức và người lao động trong cơ quan, đơn vị.

Ba là, đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền KH&CN, nhằm nâng cao nhận thức trong nhân dân về vai trò của KH&CN trong đời sống xã hội, đặc biệt là trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế, chia sẻ thông tin về những tiến bộ KH&CN đã được các địa phương, đơn vị ứng dụng hiệu quả.

Bốn là, nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách của nhà nước đối với hoạt động KH&CN cơ sở, như quy chế phối hợp hoạt động KH&CN, quy định về quản lý nhiệm vụ KH&CN cấp cơ sở; quy chế hỗ trợ từ quỹ phát triển KH&CN cho ứng dụng, chuyển giao tiến bộ KH&CN; hỗ trợ và thúc đẩy hoạt động nghiên cứu, sáng tạo KH&CN.

Năm là, tăng cường chế độ thông tin, báo cáo giữa hội đồng KH&CN cấp tỉnh với hội đồng KH&CN các sở, ngành, huyện, thành, thị, cơ sở đào tạo, tổ chức KH&CN.

T.N.L

 

Các tin đã đưa ngày: