Đóng góp của KH&CN vào tăng trưởng kinh tế

21/05/2014

Ths. Phan Quang Vinh

TP. Quản lý Công nghệ

Nguồn: Trung tâm Năng suất Việt Nam – Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng phối hợp Viện Khoa học Thống kê và các chuyên gia kinh tế

Yếu tố năng suất tổng hợp và khoa học công nghệ (KHCN)

Năng suất là yếu tố then chốt cho sự phát triển của mỗi quốc gia và là yếu tố quyết định sự tồn tại của một doanh nghiệp. Năng suất cũng đồng nghĩa với khả năng cạnh tranh, là cơ sở để phát triển lâu dài và bền vững.

Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong những thập kỷ qua phụ thuộc nhiều vào sự tích lũy của các yếu tố đầu vào, đặc biệt là vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Chiến lược này đã biến đổi đất nước từ nền kinh tế nông nghiệp đến những bước đầu của nền kinh tế công nghiệp hóa. Khi các yếu tố đầu vào sẵn có và rẻ thì chiến lược này rất phù hợp.

Hiện nay nền kinh tế nước ta phát triển ở mức cao hơn, bên cạnh chiến lược tăng trưởng dựa vào đầu vào, thì phải định hướng vào nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn và lao động, đó chính là TFP (Total Factor Productivity) - Yếu tố năng suất tổng hợp phản ảnh sự tiến bộ của khoa học, kỹ thuật và công nghệ, làm gia tăng đầu ra và nâng cao hiệu quả kinh tế. Vì vậy, tăng TFP gắn liền với áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, đổi mới công nghệ, cải tiến phương thức quản lý và nâng cao kỹ năng, trình độ tay nghề của người lao động…;

Dựa vào các kết quả nghiên cứu của Tổ chức Năng suất Châu Á - APO, nguồn tăng TFP chủ yếu dựa vào 5 yếu tố chính:

(1) Chất lượng lao động: Trình độ học vấn liên quan khả năng tiếp thu, ứng dụng những tiến bộ KHCN; Đào tạo nâng cao kỹ năng, tay nghề của người lao động; Đào tạo chuyển giao công nghệ. Đầu tư vào nguồn nhân lực làm tăng khả năng và năng lực của lực lượng lao động trong việc sản xuất ra các sản phẩm và dịch vụ chất lượng cao là yếu tố đóng góp rất quan trọng làm tăng TFP;

(2) Thay đổi nhu cầu hàng hóa, dịch vụ: Tác động tới TFP thông qua việc tăng nhu cầu trong nước và xuất khẩu về sản phẩm, hàng hóa là cơ sở quan trọng để sử dụng tối ưu các nguồn lực.

(3) Thay đổi cơ cấu vốn: Tăng cường đầu tư công nghệ tiên tiến như công nghệ thông tin và truyền thông, công nghệ hiện đại, tự động hóa. Yếu tố này thể hiện việc đầu tư vốn vào những lĩnh vực có năng suất cao, từ đó sẽ nâng cao hiệu quả của cả nền kinh tế;

(4) Thay đổi cơ cấu kinh tế: Là việc phân bổ các nguồn lực phát triển kinh tế giữa các ngành và thành phần kinh tế, các nguồn lực sẽ được phân bổ nhiều hơn cho các ngành hoặc thành phần kinh tế có năng suất cao hơn, từ đó đóng góp vào việc tăng TFP;

5. Áp dụng tiến bộ kỹ thuật: Thúc đẩy các hoạt động sáng tạo, đổi mới; nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới, cải tiến quy trình sản xuất; công nghệ quản lý tiên tiến (hệ thống, công cụ quản lý tiên tiến…). Yếu tố này bao hàm các hoạt động như đổi mới, nghiên cứu phát triển, thái độ làm việc tích cực, hệ thống quản lý, hệ thống tổ chức,… tác động làm nâng cao năng suất.

Trong số 05 yếu tố chính đóng góp vào tăng TFP như đã đề cập trên, 03 yếu tố được xác định là thuộc lĩnh vực KHCN là: Cơ cấu vốn, Áp dụng tiến bộ kỹ thuật  Chất lượng lao động

Đóng góp của KHCN vào tăng TFP của Việt Nam giai đoạn 2006 – 2008

Trong mấy năm gần đây, đóng góp của năng suất các yếu tố tổng hợp của Việt Nam thấp hơn tỉ lệ đó ở các nước trong khu vực, tại các nước năng suất các yếu tố tổng hợp thường đóng góp khoảng 40%. Sở dĩ các quốc gia đã có những chuyển biến theo hướng tích cực như vậy, là nhờ vào việc đã hình thành được các phong trào, chương trình năng suất, chất lượng cấp quốc gia. Điều này cho thấy, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam chủ yếu là phát triển theo chiều rộng, tăng về số lượng, mà chậm chuyển biến về chất lượng, về chiều sâu; trong khi yếu tố lao động được coi là nguồn lực nội sinh, hiện có nhiều lợi thế so sánh (số lượng dồi dào, giá rẻ) nhưng chỉ đóng vai trò rất nhỏ trong tăng trưởng.

KHCN đóng góp vào tăng trưởng kinh tế Vĩnh Phúc

Vĩnh Phúc thuộc Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, với vị trí địa lý thuận lợi, tỉnh đã tạo lợi thế trong phát triển doanh nghiệp sản xuất công nghiệp tương xứng với tiềm năng sẵn có và đẩy mạnh sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội theo hướng bền vững, trong đó có sự đóng góp quan trọng của KHCN vào tăng trưởng kinh tế của Tỉnh.

Năm 2007, Sở Khoa học và Công nghệ đã tham mưu cho UBND Tỉnh phê duyệt dự án “Nâng cao năng suất chất lượng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, giai đoạn 2007-2011”, với tổng mức đầu tư 10.680,0 triệu đồng. Dự án đã hỗ trợ các doanh nghiệp trên địa bàn Tỉnh thực hiện việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, đổi mới công nghệ, cải tiến phương thức quản lý và nâng cao kỹ năng, trình độ tay nghề của người lao động,...đã nâng cao tỷ trọng đóng góp của KHCN vào tăng trưởng kinh tế.

Hiện nay trên địa bàn Tỉnh có 5.700 doanh nghiệp đăng ký đầu tư, gần 4.000 doanh nghiệp đang hoạt động chủ yếu trong các lĩnh vực cơ khí, điện -điện tử, vật liệu xây dựng, giầy da và diệt may. Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) theo giá so sánh đạt 46.825 tỷ đồng, tăng 7,89% so với năm 2012. Trong đó tổng giá trị tăng thêm ngành công nghiệp, xây dựng theo giá so sánh 2010 đạt 30.538 tỷ đồng, tăng 11,12% so với năm 2012 (theo Báo cáo KTXH năm 2013).

Năm 2013 sản xuất công nghiệp đã phục hồi và có mức tăng trưởng khá, Các doanh nghiệp yếu kém đã ngừng sản xuất hoặc chuyển đổi sang lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác. Các doanh nghiệp có công nghệ tiên tiến và quản lý sản xuất tốt vẫn đảm bảo hoạt động có hiệu quả và đóng góp vào tăng trưởng kinh tế. Các doanh nghiệp sản xuất lắp ráp các linh kiện điện tử, sản xuất, lắp ráp các chi tiết cơ khí phục vụ cho công nghiệp ôtô - xe máy đã có các dây chuyền sản xuất hiện đại mang lại giá trị trên sản phẩm cao. Vì vậy đóng góp của KHCN vào tăng trưởng GRDP của tỉnh Vĩnh Phúc tương đối cao so với trung bình của cả nước. Áp dụng theo phương pháp tính toán của Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn, thì đóng góp của KHCN vào GRDP của tỉnh Vĩnh Phúc năm 2012 đạt 30,58% và năm 2013 là 37,08%.

Năm 2013, Đảng bộ Tỉnh Vĩnh Phúc (Khóa XV) đã ban hành Nghị quyết số 04-NQ/TU ngày 14/01/2013 về phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Tỉnh đến năm 2020; trong đó có dự án “Nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm hàng hóa và đổi mới công nghệ tại các doanh nghiệp trên địa bàn Tỉnh giai đoạn 2014 - 2020”.

Thực hiện và triển khai tốt các Nghị quyết số 04-NQ/TU về phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, Nghị quyết số 01-NQ/TU của BCH Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc về phát triển dịch vụ, du lịch, các Quyết định 712/QĐ-TTg ngày 21/5/2010 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình quốc gia “Nâng cao năng suất và chất lượng cho các sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp Việt Nam đến năm 2020” và Quyết định 403/QĐ-TTg ngày 20/3/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2014 -2020 trên địa bàn Tỉnh; sẽ góp phần nâng cao hơn nữa tỷ trọng đóng góp của KHCN vào tăng trưởng kinh tế của Tỉnh thời gian tới.

P.Q.V

 

 

Các tin đã đưa ngày: