Ngành khoa học và công nghệ Vĩnh Phúc sau 5 năm thực hiện nghị quyết Trung ương 7 khoá X

10/12/2013

Vũ Mạnh Toàn - Phó giám đốc Sở KH&CN Vĩnh Phúc
Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng 7 (khóa X), nông nghiệp, nông thôn và nông dân của Vĩnh Phúc đã có nhiều khởi sắc. Trong sự đóng góp đó có vai trò quan trọng của ngành khoa học và công nghệ (KH&CN) tỉnh nhà với việc tập trung nguồn lực đầu tư cho nghiên cứu, ứng dụng KH&CN nhằm phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trong khu vực nông nghiệp, nông thôn. Hoạt động KH&CN đã có những đóng góp thiết thực trong mỗi khâu, mỗi bước, giúp cho việc xây dựng quy hoạch phát triển nông nghiệp sát thực tế và phù hợp với xu hướng phát triển chung của đất nước, nhất là việc đưa tiến bộ kỹ thuật vào nhằm nâng cao năng suất, chất lượng các sản phẩm nông nghiệp, nâng cao hiệu quả, giá trị kinh tế trên một đơn vị diện tích và làm giảm ô nhiễm môi trường trong sản xuất nông nghiệp, nông thôn,...
Xác định nông nghiệp, nông dân, nông thôn là những nội dung trọng tâm trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, Quy hoạch phát triển KH&CN tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã khẳng định và ưu tiên phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn là một trong năm chương trình KH&CN được chú trọng và tập trung để đầu tư phát triển, bằng các chương trình, dự án cụ thể và có kế hoạch, lộ trình triển khai thực hiện phù hợp.
Năm năm qua, ngành KH&CN Tỉnh đã tham mưu, triển khai thực hiện 09 dự án thuộc Chương trình “Xây dựng mô hình ứng dụng và chuyển giao KH&CN phục vụ phát triển kinh tế-xã hội nông thôn và miền núi” do Bộ KH&CN chủ trì với số kinh phí trên 78 tỷ đồng. Các dự án chủ yếu thuộc lĩnh vực trồng trọt, tập trung vào lựa chọn một số giống cây trồng mới có năng suất, chất lượng cao vào sản xuất và triển khai thực hiện một số tiến bộ kỹ thuật trong thâm canh cây trồng.
Trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn được triển khai thực hiện, với 163 lượt đề tài, dự án (trong tổng số 394 đề tài, dự án cấp tỉnh, chiếm tỷ lệ 41,4%), tổng kinh phí từ ngân sách Nhà nước cho lĩnh vực này là 32,3 tỷ đồng (trong tổng số 67,5 tỷ đồng ngân sách chi cho KH&CN, chiếm tỷ lệ 47,9%).
Tập trung đầu tư có trọng tâm, trọng điểm và mang lại những hiệu quả rõ rệt bằng nguồn đầu tư phát triển KH&CN đã chi đầu tư trang thiết bị nhằm nâng cao tiềm lực KH&CN cho các tổ chức thuộc ngành nông nghiệp gồm 05 dự án với tổng kinh phí là 41.230 triệu đồng, trong đó chủ yếu đầu tư trang thiết bị phục vụ cho việc kiểm định, kiểm nghiệm hạt giống, phân bón và đất, nước,...Hoạt động nghiên cứu KH&CN trong lĩnh vực này, qua đánh giá số lượng các nhiệm vụ KH&CN được ứng dụng có hiệu quả vào thực tiễn đạt 68%.
Trong lĩnh vực trồng trọt, tập trung vào một số giống cây trồng chính như cây lúa, cây ngô, cây rau, củ, cây ăn quả, hoa, các cây lương thực ngắn ngày... Từ năm 2009 đến nay, Tỉnh đã xây dựng được các vùng trồng trọt sản xuất hàng hóa tập trung với tổng diện tích là 17.187 ha. Một số sản phẩm đặc trưng, truyền thống của địa phương như: Rắn Vĩnh Sơn, Bí đỏ (Vĩnh Tường); Cá Thính, Thanh long ruột đỏ (Lập Thạch); Gạo Long Trì, Dưa chuột (Tam Dương); Su su (Tam Đảo),…từng bước xây dựng thương hiệu và ngày càng phát triển sản phẩm; qua đó đã góp phần nâng cao giá trị sản phẩm làm ra, giúp ổn định cho phát triển và mở rộng các làng nghề truyền thống tại địa phương.
Thu nhập bình quân trên đơn vị diện tích canh tác liên tục tăng qua các năm. Năm 2008, mới đạt 68,9 triệu đồng/ha, đến năm 2012 đã đạt 120 triệu đồng/ha. Năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế hầu hết các loại cây trồng đều tăng; trong đó, năng suất lúa vụ Xuân năm 2013 đạt 60,04 tạ/ha, là năm có năng suất cao nhất từ trước tới nay. Sản phẩm trồng trọt đã đảm bảo về nhu cầu lương thực trong Tỉnh, góp phần phát triển chăn nuôi và cung cấp lượng hàng hóa lớn cho các tỉnh lân cận.
 Trong chăn nuôi - thú y, hoạt động nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ tập trung vào việc khảo nghiệm và lựa chọn một số giống bò, lợn, gia cầm có năng suất thịt cao, tỷ lệ nạc và năng suất trứng để khuyến cáo đưa vào chăn nuôi đại trà. Các đề tài, dự án chủ yếu tập trung vào nghiên cứu một số giải pháp phòng và điều trị bệnh cho gia súc, gia cầm, hạn chế dịch bệnh và ứng dụng các tiến bộ mới để phát triển một số con vật nuôi có giá trị kinh tế cao và một số vật nuôi như: Rắn, dế, lợn, hươu... Phần giá trị gia tăng do chăn nuôi mang lại nhờ áp dụng KH&CN đạt 25-30%.
Trong các lĩnh vực khác như: Lâm nghiệp, thủy sản, đã có nhiều khởi sắc với các nghiên cứu chuyên sâu tập trung vào việc nghiên cứu, khảo nghiệm các giống cây, con mới, mang lại thu nhập cao như khảo nghiệm một số giống cây lâm nghiệp khó bắt cháy, nghiên cứu việc trồng xen canh cùng với cây lâm nghiệp một số cây trồng ngắn ngày, cây thuốc nam làm tăng giá trị cho chủ rừng; đưa vào nuôi trồng Cá Anh Vũ, Cá Quế; Cá Tầm; Cá Rô phi đơn tính dòng Đường nghiệp theo phương pháp công nghiệp. Xây dựng được các mô hình cơ giới hóa trong nông nghiệp giúp người nông dân từng bước làm quen và thực hiện cơ giới từ khâu làm đất, gieo thẳng lúa bằng giàn kéo tay, phun thuốc BVTV, vận chuyển, đóng bầu gieo hạt cây con, thu hoạch, sơ chế, bảo quản sản phẩm,… Nhờ vậy, năng suất lao động tăng, giảm dần sức ép lao động thời vụ, một bộ phận không nhỏ lao động nông nghiệp đã chuyển dần sang các lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ, tìm kiếm việc làm thêm bên ngoài, tăng thu nhập và cải thiện đời sống.
Đặc biệt, các đề tài khoa học trong lĩnh vực môi trường nông thôn đã góp phần trực tiếp nhằm làm giảm ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi, trong xử lý rác thải, nước thải nông thôn, ứng dụng các tiến bộ mới này đã khắc phục căn bản được vấn đề giải quyết ô nhiễm môi trường trong nông thôn; các công nghệ được áp dụng đều là công nghệ tiên tiến trong nước, cũng như trong khu vực, mà trên địa bàn cả nước hiện có rất ít các địa phương áp dụng, tiêu biểu như chế phẩm Biomix1, Biomix2, lò đốt rác NFI 05, đệm lót sinh học trong chăn nuôi...
Các kết quả nghiên cứu KH&CN được ứng dụng vào nông thôn, mang lại nhiều giá trị thiết thực trên hầu khắp các hoạt động sản xuất và đời sống của nông thôn. Mặc dù mang lại rất nhiều lợi ích từ việc thụ hưởng kết quả các đề tài, tuy nhiên quy mô nghiên cứu còn nhỏ lẻ, chưa có những giống cây trồng, những tiến bộ mới được áp dụng rộng rãi, quy mô toàn tỉnh. Địa chỉ áp dụng còn hạn chế, mới dừng lại ở một số hộ, một số địa phương trong Tỉnh. Vì vậy tính ứng dụng chưa cao, chưa trở thành phong trào rộng khắp trong nông dân toàn Tỉnh.
Bên cạnh đó, ngành KH&CN đã phối hợp làm tốt công tác đào tạo nghề cho nông dân, tập huấn kỹ năng sản xuất, áp dụng tiến bộ KH&CN cho nông dân thông qua 2 hình thức đào tạo, bồi dưỡng: Tập huấn trực tiếp và tập huấn thông qua nội dung các đề tài, dự án. Hàng ngàn lượt nông dân trong Tỉnh được tham gia phổ biến kiến thức liên quan đến KH&CN, qua đó đã giúp cho người nông dân có điều kiện để áp dụng các tiến bộ mới vào sản xuất và đời sống trên chính quê hương của họ nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao cho bản thân, gia đình.
Từ những kết quả đạt được có thể khẳng định, nghiên cứu KH&CN nói chung và nghiên cứu KH&CN trong lĩnh vực nông nghiệp nói riêng đã tập trung giải quyết những vấn đề bức xúc nảy sinh trong thực tiễn, đưa các tiến bộ mới, hiện đại vào sản xuất, đời sống nhằm tạo ra một chuỗi giá trị kinh tế giúp cho người nông dân yên tâm sản xuất, có cơ hội thoát nghèo và làm giàu chính trên mảnh đất của mình. Hoạt động nghiên cứu, ứng dụng KH&CN đã có những đóng góp nhất định trong việc xây dựng hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn từ hệ thống điện, đường, trường, trạm đến các thiết chế văn hóa, góp phần xây dựng nông thôn mới. Tuy nhiên, để phát huy hơn nữa vai trò của mình, đòi hỏi KH&CN phải tiếp tục nỗ lực để chuyển tải kịp thời các tiến bộ KH&CN mới, nhằm làm tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế và tiến tới một nền sản xuất hữu cơ bền vững, đưa tỷ lệ đóng góp của KH&CN trong giá trị sản xuất nông nghiệp đạt từ 30-40% vào năm 2015.
V.M.T
Các bài viết khác :
Các tin đã đưa ngày: