Nhìn lại 5 năm hoạt động (2008 - 2013) qũy phát triển KH&CN Vĩnh Phúc

10/12/2013

Hà Huy Bắc - P. Giám đốc điều hành Quỹ PTKHCNVP
Nhằm đa dạng hóa các nguồn lực trong hoạt động khoa học và công nghệ (KH&CN), Luật KH&CN cho phép và khuyến khích các bộ, ngành ở Trung ương và các địa phương thành lập Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ. Tại tỉnh Vĩnh Phúc, Quỹ Phát triển KH&CN Tỉnh (sau đây xin gọi tắt là Quỹ) được thành lập và đi vào hoạt động từ năm 2008 đến nay.
Sau 5 năm (2008 - 2013) đi vào hoạt động, Quỹ đã cho 11 dự án ứng dụng KH&CN trên địa bàn Tỉnh vay vốn, với tổng số vốn cho vay hơn 4,3 tỷ đồng, thuộc một số lĩnh vực trọng điểm, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh như: Phát triển làng nghề truyền thống (Rắn Vĩnh Sơn; Gạo Long Trì); Nuôi trồng các giống cây, con đặc sản của từng vùng, miền (lợn rừng, cá Tầm Tam Đảo); Chăn nuôi an toàn sinh học (trang trại chăn nuôi tổng hợp); Sử dụng tiết kiệm năng lượng, bảo vệ môi trường (lò gạch liên tục kiểu đứng; Sản xuất giấy bằng thân cây ngô theo công nghệ sinh học; Sản xuất giấy vệ sinh bằng công nghệ cải tiến thân thiện với môi trường),...
Việc thành lập Quỹ thể hiện sự quan tâm của lãnh đạo tỉnh đối với lĩnh vực KH&CN, nhằm hiện thực hóa mục tiêu đẩy mạnh áp dụng các kết quả nghiên cứu từ các đề tài nghiên cứu khoa học, các sáng kiến cải tiến kỹ thuật vào sản xuất, kinh doanh. Đồng thời, đã hình thành được một kênh tài chính mới đáp ứng cho nhu cầu thực hiện nhiệm vụ KH&CN bởi từ trước khi Quỹ ra đời, kinh phí dành cho nhiệm vụ KH&CN chủ yếu là cấp phát, cho không.
Với quy chế tài chính cho vay, hỗ trợ lãi suất của Quỹ, bắt buộc các đơn vị thực hiện nhiệm vụ KH&CN phải tăng cường hoạt động quản lý để bảo tồn và phát triển nguồn vốn của mình, do đó các nhiệm vụ KH&CN sẽ hiệu quả hơn rất nhiều. Hoạt động của Quỹ trong những năm qua, đã góp phần tăng cường về hiệu quả ứng dụng, chuyển giao KH&CN, phục vụ sự phát triển kinh tế - xã hội và tạo cầu nối giữa các nhà khoa học với các doanh nghiệp; Gắn kết việc nghiên cứu khoa học và sản xuất kinh doanh, thúc đẩy quá trình chuyển giao, đổi mới, phát triển công nghệ trong các doanh nghiệp. Do được ứng dụng từ kết quả các đề tài khoa học, nên quy trình sản xuất có công nghệ hiện đại hơn, từ đó sản phẩm của doanh nghiệp có chất lượng tốt hơn, giá thành hạ hơn,... Đồng thời doanh nghiệp tiết kiệm được năng lượng đầu vào và giảm thiểu chất thải ô nhiễm môi trường ở đầu ra của của quá trình sản xuất. Lãi suất vay vốn thấp (hoặc không có lãi suất) giúp cho doanh nghiệp giảm được chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm. Từ đó giúp cho doanh nghiệp có sức cạnh tranh tốt hơn trong điều kiện cơ chế thị trường.
Tuy nhiên, sau 5 năm hoạt động, Quỹ bộc lộ một số hạn chế về tổ chức điều hành và chuyên môn cần phải khắc phục:
Thứ nhất: Quỹ thiếu chức năng tài trợ. Mặc dù trong Điều lệ tổ chức và hoạt động quy định Quỹ có chức năng tài trợ cho các hoạt động nghiên cứu và ứng dụng KH&CN, nhưng trong Quy chế tài chính chưa có, nên làm mất đi một trong những chức năng lớn của Quỹ. Điều đó đã làm hạn chế khả năng nghiên cứu, thực hiện đổi mới công nghệ của các tổ chức KHCN và các doanh nghiệp.
Thứ hai: Số lượng dự án ứng dụng và chuyển giao tiến bộ KH&CN còn ít. Sau gần 5 năm hoạt động, tổng số dự án được thẩm định và giải ngân mới được 11 dự án, trung bình 2,5 dự án/năm.
Thứ ba: Hiệu quả hoạt động của Văn phòng Quỹ chưa cao. Quy trình thủ tục thực hiện cho vay còn rườm rà, phức tạp, phải qua nhiều khâu, thời gian kiểm tra hoàn thiện thẩm định hồ sơ kéo dài thường từ 60 – 90 ngày, nên ảnh hưởng tới tiến độ thực hiện của các dự án cho vay.
Thứ tư: Chưa thu hút được các nguồn vốn ngoài ngân sách, như các khoản đóng góp tự nguyện, hiến tặng của các tổ chức, cá nhân trong nước và quốc tế đầu tư cho KH&CN.
Nguyên nhân của những khó khăn trên là do: Vốn điều lệ của Quỹ hiện nay là 5 tỷ đồng. Số vốn này là quá ít để có thể triển khai các dự án trên nhiều lĩnh vực. Vì vậy một dự án thường chỉ được vay từ 300 triệu đồng đến 500 triệu đồng. Số vốn được vay này chiếm một tỷ trọng rất nhỏ so với tổng số vốn cần thiết để thực hiện dự án (thường chỉ chiếm từ 15 đến 20%), do vậy thường không đáp ứng được nhu cầu để ứng dụng các công nghệ mới, nhất là công nghệ nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường, tiết kiệm năng lượng. Thời gian hoạt động ngắn, nên chưa tích lũy học hỏi được nhiều kinh nghiệm. Quy trình cho vay và thu hồi nợ hết sức phức tạp; đòi hỏi phải có đủ nhân lực và pháp chế thực hiện,...
Theo Luật Khoa học và Công nghệ sửa đổi, bổ sung năm 2013, thì chức năng nhiệm vụ của Quỹ có rất nhiều thay đổi, theo đó ngoài chức năng cho vay, Quỹ sẽ được mở rộng phạm vi tài trợ các hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ. Đặc biệt trong cơ chế cấp, sử dụng, quản lý kinh phí thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước, Luật quy định: “Kinh phí thực hiện nhiệm vụ KH&CN được cấp thông qua Quỹ phát triển khoa học và công nghệ... “. Như vậy một số nhiệm vụ KH&CN đặc thù, có quy mô lớn và thời gian dài, có thể lựa chọn hình thức cấp phát kinh phí thông qua Quỹ. Điều này sẽ tạo điều kiện mở rộng số lượng kinh phí trong một lần cấp phát cũng như kéo dài thời gian thanh quyết toán, khắc phục được các hạn chế hiện nay.
Trong thời gian tới Quỹ cũng tập trung vào nhiệm vụ xây dựng và triển khai Đề án hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ vay vốn để đổi mới công nghệ, thiết bị, góp phần phát triển sản xuất, tăng thu nhập cho ngân sách Tỉnh, cho người lao động và nâng cao chỉ số cạnh trạnh của Tỉnh. Quỹ cũng tập trung đầu tư vào các vấn đề bức xúc hiện nay trong xã hội như: Tiết kiệm năng lượng, bảo vệ môi trường, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân,...
H.H.B
 

 

Các tin đã đưa ngày: