Kết quả đạt được sau 2 năm triển khai thực hiện chiến lược phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011 - 2020

10/12/2013

Đặng Thị Minh Thúy - Chánh văn phòng Sở KH&CN Vĩnh Phúc
Để hoàn thành mục tiêu phát triển khoa học và công nghệ (KH&CN) là nền tảng đưa nền kinh tế của tỉnh Vĩnh Phúc có những yếu tố cơ bản của một tỉnh công nghiệp vào năm 2015, tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Sở KH&CN Vĩnh Phúc thực hiện Chiến lược phát triển KH&CN giai đoạn 2011-2020, sau 2 năm thực hiện đã có những đóng góp đáng kể vào sự phát triển chung nền kinh tế - xã hội tỉnh nhà.
Có thể nói, trong những năm qua, hoạt động KH&CN trên địa bàn Tỉnh đạt được những kết quả rất đáng khích lệ. Các chương trình, đề tài khoa học đã bám sát và phục vụ có hiệu quả mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; nhiều thành tựu KH&CN tiên tiến, công nghệ mới trong và ngoài nước đã được áp dụng nhanh vào quá trình sản xuất; góp phần thúc đẩy các ngành sản xuất phát triển, nâng cao chất lượng công tác văn hoá, xã hội, giáo dục đào tạo, y tế, an ninh, quốc phòng,...
Năm 2012, Sở KH&CN đã triển khai thực hiện 84 đề tài cấp tỉnh, gồm 61 đề tài nghiên cứu, với tổng kinh phí là 6.485,0 triệu đồng; 22 đề tài triển khai thực nghiệm, với tổng kinh phí là 10.374,0 triệu đồng và 01 dự án; triển khai 06 dự án cấp nhà nước thuộc Chương trình nông thôn miền núi, trong đó có 03 dự án Trung ương quản lý, 03 dự án ủy quyền cho địa phương quản lý. Đến hết tháng 6/2013, Sở Khoa học và Công nghệ đã trình Hội đồng KHCN tỉnh thông qua và trình các cấp ra quyết định phê duyệt 56 đề tài, dự án thực hiện năm 2013, trong đó có có 37 đề tài nghiên cứu, 16 đề tài triển khai thực nghiệm và đối ứng kinh phí cho 03 dự án thuộc Chương trình nông thôn miền núi, với tổng kinh phí cấp năm 2013 là 10.145,0 triệu đồng. 
Về công tác nghiên cứu, ứng dụng các thành tựu KH&CN vào sản xuất, đời sống đã tập trung vào các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trọng điểm của Tỉnh như: Áp dụng các tiến bộ KHKT vào sản xuất con giống, chú trọng các giống vật nuôi đặc sản thích hợp với điều kiện khí hậu của từng vùng và cho giá trị kinh tế cao như lợn ngoại lai, rắn; xây dựng, bảo hộ và phát triển nhãn hiệu cho sản phẩm truyền thống cá Thính Lập Thạch; nghiên cứu, khảo nghiệm, lựa chọn các giống cây con cho năng suất, chất lượng cao như các giống lúa nếp BN4, BN15....các giống lúa có thời gian sinh trưởng ngắn như PC6, P6ĐB; xây dựng các mô hình sản xuất hàng hóa như khoai tây giống Atlantic và Sinora; các giống khoai lang mới, cà chua ghép trái vụ để nâng cao giá trị sản xuất; xây dựng các mô hình thực nghiệm trồng mía trên các vùng đất gò đồi bạc màu cho năng suất cao hơn các giống hiện có từ 15%- 20%, khả năng chống chịu sâu bệnh tốt; nghiên cứu, phát triển các giống bưởi đặc sản, chất lượng cao như bưởi Diễn, bưởi Da xanh để sản xuất hàng hóa,...
 Bên cạnh đó, nhiều đề tài khoa học xã hội nhân văn cũng góp phần nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, giữ gìn bản sắc văn hoá, phát huy truyền thống cách mạng của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc. Điều tra, nghiên cứu về lịch sử một số xã truyền thống của tỉnh, sưu tầm những câu truyện cổ; nghiên cứu, phân loại lập bản đồ khảo cổ học của tỉnh. Đã tiến hành nghiên cứu, in, xuất bản và phát hành Địa chí Vĩnh Phúc. Ngoài ra, có rất nhiều đề tài quan tâm tới công tác dân vận, giải quyết khó khăn, vướng mắc về đồng bào dân tộc thiểu số và vùng núi. Chú trọng tới công tác bảo đảm an ninh chính trị, an ninh thông tin, đấu tranh phòng, chống tội phạm địa bàn Tỉnh; công tác phối hợp trong đền bù, giải phóng mặt bằng, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh (PCI) của Tỉnh; nâng cao hiệu quả đối với việc phòng chống tham nhũng trong giai đoạn hiện nay.
Tiếp tục đầu tư có trọng tâm, trọng điểm và hiệu quả bằng nguồn kinh phí đầu tư phát triển KH&CN cho tiềm lực KH&CN của một số đơn vị, ngành, lĩnh vực nhằm nâng cấp, trang thiết bị, máy móc, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực KH&CN... Công tác quản lý hoạt động KH&CN, tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng, sở hữu trí tuệ, công tác thanh tra và an toàn bức xạ, công tác thông tin KH&CN được đẩy mạnh. Năm 2012 và 6 tháng đầu năm 2013 đã kiểm định, hiệu chuẩn được trên 43.500 phương tiện đo cho các doanh nghiệp; phân tích thử nghiệm trên 1.000 mẫu nước, xăng dầu, các loại hàng hóa, thực phẩm... qua đó góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Xây dựng và ban hành văn bản chỉ đạo cơ quan hành chính áp dụng tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001:2008. Trong và sau Tết nguyên đán đã kiểm tra các cơ sở kinh doanh mũ bảo hiểm, xăng - dầu, thiết bị điện, điện tử, các hàng hóa phục vụ Tết Nguyên đán. Đăng tải các tin, bài về an toàn vệ sinh thực phẩm, tiêu chuẩn chất lượng xăng dầu và hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT). Hướng dẫn hơn 200 lượt đơn vị, doanh nghiệp và cá nhân hoàn thiện thủ tục đăng ký sở hữu trí tuệ như các nhãn hiệu mang địa danh Tây Thiên, Cá Thính Lập Thạch, Thanh long ruột đỏ... Duy trì hoạt động hệ thống thông tin Sở; cập nhật gần 3.000 tin, bài, các thông tin về hoạt động KH&CN; Phát hành bản tin KH&CN Vĩnh Phúc; Phối hợp với Báo Vĩnh Phúc, Đài Phát thanh - Truyền hình Tỉnh tuyên truyền các kết quả nghiên cứu ứng dụng KH&CN tại địa phương.
Mặc dù gặp phải không ít khó khăn, nhưng Sở KH&CN vẫn hoàn thành tốt công tác tham mưu cho Tỉnh ủy, HĐND và UBND tỉnh ban hành các Chương trình, kế hoạch về KH&CN, như phê duyệt các đề tài KH&CN thực hiện năm 2012, 2013; tăng vốn điều lệ của Quỹ phát triển KH&CN từ 5,0 tỷ đồng hiện nay lên 20,0 tỷ đồng trong 5 năm, từ 2013 đến 2017; kế hoạch triển khai áp dụng ISO hành chính công năm 2012, 2013; kế hoạch triển khai thực hiện Chương trình hành động số 42-CTr/TU thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về phát triển KH&CN phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
Những khó khăn mà ngành KH&CN Vĩnh Phúc hiện nay đang gặp phải đó là tiềm lực KH&CN của Tỉnh còn thấp, đội ngũ khoa học có trình độ cao còn ít, cán bộ khoa học đầu đàn ở nhiều sở, ngành, nhiều lĩnh vực mũi nhọn thiếu và yếu; cơ sở vật chất của các trung tâm, phòng thí nghiệp, thử nghiệm chưa bảo đảm nhu cầu nghiên cứu, ứng dụng; nguồn kinh phí đầu tư cho hoạt động KHCN hàng năm thấp hơn mức bình quân chung cả nước. Nhưng với mục tiêu đặt sự nghiệp phát triển KH&CN ở vị trí quan trọng, coi đây là quốc sách hàng đầu, đủ thấy Tỉnh luôn quan tâm và coi KH&CN là một trong những động lực mạnh mẽ cho sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội của Tỉnh. Vì vậy, để chiến lược phát triển KH&CN đến năm 2020 trở thành hiện thực, vẫn cần những giải pháp đồng bộ hơn nữa, cần có sự đồng thuận cao hơn của các cấp, các ngành và toàn xã hội.
Đ.T.M.T
Các tin đã đưa ngày: