Tiếp tục đổi mới mô hình Quỹ phát triển Khoa học và Công nghệ Vĩnh Phúc

24/12/2012

 

Ths. Hà Huy Bắc - Phó Giám đốc Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Vĩnh Phúc

Để thúc đẩy phát triển khoa học và công nghệ (KH&CN), bên cạnh các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học đầu tư nghiên cứu, phát triển công nghệ; Chính phủ các nước đều thành lập nhiều loại quỹ khác nhau để hỗ trợ đầu tư đổi mới công nghệ và giúp thương mại hóa kết quả triển khai nghiên cứu nhằm mục đích đa dạng hoá nguồn đầu tư tài chính cho hoạt động KH&CN.

Tại Việt Nam mô hình Quỹ phát triển KH&CN (sau đây gọi tắt là Quỹ) được đề cập trong Luật KH&CN vào năm 2000. Vốn Điều lệ được cấp khi thành lập ban đầu của các Quỹ không lớn, số vốn ban đầu cao nhất là Quỹ Phát triển KH&CN quốc gia là 200 tỷ đồng, kế đến là thành phố Hồ Chí Minh 50 tỷ đồng, hầu hết các tỉnh, thành còn lại từ trên 1 tỷ đến 10 tỷ đồng, được hình thành từ ngân sách sự nghiệp khoa học, bổ sung từ kinh phí thu hồi của các đề tài dự án hàng năm, các khoản thu từ hoạt động của Quỹ. Ngoài ra, Quỹ có thể được huy động các nguồn vốn ngoài ngân sách khác như các khoản đóng góp tự nguyện của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước...

Thực trạng hoạt động của Quỹ PTKH&CN Vĩnh Phúc:

Được sự quan tâm của lãnh đạo UBND tỉnh Vĩnh Phúc và các cấp các ngành, tháng 6 năm 2008, UBND tỉnh đã ra Quyết định thành lập Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ tỉnh Vĩnh Phúc. Theo quyết định thành lập, cơ cấu tổ chức của Quỹ có Hội đồng Quản lý, Hội đồng thẩm định, cơ quan điều hành và Ban Kiểm soát đều làm việc theo chế độ kiêm nhiệm. Tổng số vốn điều lệ ban đầu của Quỹ là 5 tỷ đồng, đã phân bổ đủ trong 3 năm, từ năm 2008 đến năm 2010.

Mục tiêu hoạt động của Quỹ là đẩy mạnh việc áp dụng các kết quả từ đề tài nghiên cứu KH&CN vào sản xuất và đời sống, bằng việc hỗ trợ cho các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân vay vốn để thực hiện các dự án ứng dụng, chuyển giao tiến bộ KH&CN vào sản xuất kinh doanh; tập trung vào thế mạnh sản xuất của các vùng miền trong tỉnh; lợi thế riêng của các doanh nghiệp. Đồng thời giải quyết các vấn đề cấp thiết như: tiết kiệm năng lượng trong sản xuất và tiêu dùng; hạn chế chất thải, bảo vệ môi trường; chăm sóc sức khỏe nhân dân; bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng... góp phần thúc đẩy phát triển nền kinh tế  xã hội của tỉnh.

Sau 4 năm đi vào hoạt động, cho đến nay (tháng 6/2012), Quỹ đã cho vay được 11 dự án ứng dụng KH&CN trên địa bàn tỉnh (đều là các dự án ứng dụng kết quả nghiên cứu KH&CN từ các đề tài cấp tỉnh và cấp Bộ), với tổng số vốn cho vay trên 4 tỷ đồng, thuộc các lĩnh vực trọng điểm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, như: Phát triển làng nghề truyền thống (Rắn Vĩnh Sơn; Gạo Long Trì); nuôi trồng các giống cây, con đặc sản của từng vùng (Lợn rừng, cá Tầm Tam Đảo); chăn nuôi an toàn sinh học (Trang trại chăn nuôi lợn theo hướng công nghiệp); sử dụng tiết kiệm năng lượng, bảo vệ môi trường (lò gạch liên tục kiểu đứng; sản xuất giấy bằng thân cây ngô theo công nghệ sinh học; cải tạo dây truyền sản xuất bia Winger...)

Nguồn vốn vay từ Quỹ tuy nhỏ so với tỷ trọng vốn của doanh nghiệp, nhưng có hiệu quả lớn, vì giải ngân đúng thời điểm, nên giải quyết kịp thời phát sinh chi của đơn vị; lãi suất thấp (hoặc không có lãi suất) nên không tạo ra chi phí lớn và đã góp phần làm cho giá thành sản phẩm giảm. Thời gian trả gốc vay dài nên doanh nghiệp có được vòng quay vốn lớn, có thêm nguồn vốn để khấu hao tài sản cố định và tích lũy tái đầu tư mở rộng sản xuất; quy trình sản xuất bằng công nghệ hiện đại (do được ứng dụng từ kết quả các đề tài nghiên cứu, đề tài triển khai của Sở Khoa học và Công nghệ) nên sản phẩm của doanh nghiệp có uy tín, có thương hiệu, có sức cạnh tranh tốt hơn... 

Điều quan trọng là với một lượng vốn vay mới từ Quỹ, với lãi suất thấp mang tính hỗ trợ, và uy tín của công nghệ hiện đại, đã giúp doanh nghiệp huy động được nhiều nguồn vốn khác để thực hiện dự án.

Bên cạnh những kết quả, ưu điểm, trong quá trình hoạt động, Quỹ bộc lộ một số khó khăn, hạn chế đó là:

* Về cơ cấu tổ chức, điều hành: Do kiêm nhiệm nên cơ quan điều hành Quỹ rất hạn chế thời gian. Điều này làm ảnh hưởng đến hoạt động của Quỹ như: Thẩm định dự án; kiểm tra đôn đốc tiến độ thực hiện, thu hồi lãi suất và nợ vay, v.v... Chính vì vậy số lượng dự án được giải ngân cho đến thời điểm này là rất ít (11 dự án/4 năm), mặc dù có rất nhiều Dự án có nhu cầu vay vốn từ Quỹ.

* Về chức năng hoạt động: Mặc dù trong Điều lệ Tổ chức và hoạt động quy định Quỹ có chức năng tài trợ cho các hoạt động nghiên cứu và ứng dụng KH&CN, nhưng trong Quy chế tài chính chưa có. Điều đó phần nào đã làm hạn chế khả năng nghiên cứu, thực hiện đổi mới công nghệ, áp dụng các giải pháp hữu ích, sáng kiến của các tổ chức KH&CN và các doanh nghiệp. Đặc biệt là hạn chế việc tài trợ cho các Hội thi sáng tạo, áp dụng các giải pháp hữu ích cho các tổ chức và cá nhân trên địa bàn.

* Về vốn điều lệ: So với tốc độ phát triển kinh tế của tỉnh, đến nay vốn điều lệ cho Qũy là thấp (hiện nay là 5 tỷ đồng). Vì vậy một dự án thường chỉ được vay từ 300 triệu đồng đến 500 triệu đồng. Số vốn này không đáp ứng được nhu cầu cần thiết để ứng dụng các công nghệ mới, nhất là công nghệ nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường, tiết kiệm năng lượng.

Kiến nghị, đề xuất

Để tăng cường đầu tư cho KH&CN, việc hình thành Quỹ cấp tỉnh là hết sức cần thiết và phù hợp với quy định của Luật Khoa học và Công nghệ. Tuy nhiên, để Quỹ hoạt động có hiệu quả, cần thiết phải có những nghiên cứu, đánh giá lại mô hình và hiệu quả hoạt động của Quỹ để đúc rút những bài học kinh nghiệm để ngày càng nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ. Qua nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm với Quỹ của các địa phương, thì mô hình tổ chức của các Quỹ địa phương không nên tiếp tục duy trì mô hình đơn thuần kiêm nhiệm như hiện nay, vì với mô hình đơn thuần kiêm nhiệm thì với tâm lý chung của những người tham gia quản lý Quỹ không cho vay sẽ an toàn, cho vay sẽ sợ mang đến rủi ro nên không thúc đẩy được hoạt động của Quỹ. Trong bước quá độ, việc liên kết với các tổ chức tín dụng để triển khai hoạt động của Quỹ nhằm bảo toàn vốn vay là cách thực hiện thông minh, phù hợp tình hình thực tiễn nguồn nhân lực của các Sở Khoa học và Công nghệ, thực tiễn tại Thanh Hóa, Thái Bình, Vĩnh Phúc cũng đã cho thấy liên kết này vô cùng hiệu quả để xử lý các trường hợp doanh nghiệp chây lỳ, phải nhờ đội ngũ chuyên nghiệp của đối tác liên kết thu hồi công nợ. Tuy nhiên về lâu dài, cần xây dựng bộ máy hoạt động độc lập, đề từng bước xây dựng một đội ngũ chuyên nghiệp liên quan đến tài trợ và cho vay các đối tượng liên quan đến KH&CN (như Bình Định, Hòa Bình đang làm).

Vốn cấp ban đầu cho Quỹ tùy tình hình thực tế nhu cầu các doanh nghiệp tại các địa phương, tuy nhiên nên tối thiểu từ 20 - 25 tỷ đồng trở lên. Có chính sách bổ sung vốn cho Quỹ theo kết quả thực hiện. Cần bổ sung đối tượng, và đưa ra điều kiện cho vay cho phù hợp với thực tiễn tại địa phương, nên có quy định cụ thể cho từng  ngành, lĩnh vực công nghệ ưu tiên. Nên mở rộng hơn mức tài trợ và cho vay để thực sự thu hút sự tham gia của nhà khoa học và cộng đồng doanh nghiệp. Cần có sự phối hợp tốt với các tổ chức, cơ quan, ban, ngành tại địa phương để tổ chức triển khai thực hiện. Lồng ghép, phối hợp triển khai hoạt động của Quỹ với các chương trình khác tại địa phương.

Quỹ Phát triển KH&CN Quốc gia đóng vai trò đầu tàu trong hệ thống Quỹ cả nước, nên có sự hỗ trợ cho các địa phương thông qua hình thức ủy thác cho vay dự án góp phần tăng thêm nguồn vốn cho các Quỹ địa phương. Ngoài ra, cần thường xuyên chủ trì tổ chức các hội thảo, tạo diễn đàn trao đổi kinh nghiệm để hỗ trợ các địa phương về nghiệp vụ trong quá trình tổ chức thực hiện, đồng thời tạo mối liên kết, hợp tác chặt chẽ giữa các Quỹ trung ương và địa phương nhằm mục tiêu chung đóng góp vào sự phát triển KH&CN của nước nhà.

H.H.B

Các tin đã đưa ngày: