Kết luận của Ban thường vụ Tỉnh ủy Về Quy hoạch phát triển khoa học, công nghệ tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030

24/07/2012

 

Ngày 23 tháng 9 năm 2011, Ban Thường vụ Tỉnh ủy họp, nghe Ban cán sự ủy ban nhân dân tỉnh báo cáo Quy hoạch phát triển khoa học, công nghệ tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Sau khi thảo luận, Ban Thường vụ Tỉnh ủy có ý kiến như sau:

Ban Thường vụ tỉnh ủy đánh giá cao sự cố gắng của Sở Khoa học và Công nghệ, đơn vị tư vấn (Trung tâm hợp tác công nghệ Việt Hàn - Bộ Khoa học và Công nghệ) thời gian qua đã tập ttrung trí tuệ, công sức để hoàn thành đúng tiến độ xây dựng báo cáo quy hoạch phát triển khoa học, công nghệ tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 và được hoàn thiện sau 2 kỳ họp của ủy ban nhân dân tỉnh.

Quy hoạch được xây dựng nghiêm túc; các vấn đề đã được nghiên cứu kỹ, bám sát được quy hoạch chung của ngành, đánh giá được thực trạng cái được, cái chưa được và định hướng những nội dung cần phải thực hiện trong thời gian tới về phát triển khoa học, công nghệ. Ban Thường vụ Tỉnh ủy cơ bản nhất trí với nội dung quy hoạch và nhấn mạnh một số nội dung sau:

1. Về thực trạng hoạt động khoa học và công nghệ:

Thời gian qua, khoa học, công nghệ đã khẳng định vai trò là động lực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa của tỉnh; thể hiện:

- Đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ có bước phát triển cả về số lượng và chất lượng, có khả năng tiếp thu và làm chủ khoa học và công nghệ tiên tiến, hiện đại trên một số lĩnh vực.

- Đầu tư các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực,...) cho khoa học và công nghệ ngày càng tăng. Giai đoạn từ 2006 - 2010, tỉnh đã đầu tư ngân sách chiếm 1,024% tổng chi ngân sách hàng năm cho khoa học và công nghệ.

- Hoạt động khoa học và công nghệ của tỉnh đã có bước tiến bộ, phục vụ thiết thực nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Các đề tài, dự án khoa học và công nghệ đã được triển khai nghiêm túc, có hiệu quả. Qua tổng kết, đã có 66% số đề tài sau khi kết thúc nghiên cứu đã được ứng dụng ngay vào thực tiễn. Nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ, đặc biệt ứng dụng công nghệ sinh học, công nghệ cao vào sản xuất và đời sống đã đạt được những kết quả khá.

- Các doanh nghiệp đã thực sự chú trọng đến việc đổi mới công nghệ, không ngừng cải tiến mẫu mã, cho ra đời những sản phẩm dạt chất lượng cao, phù hợp với thị hiếu khách hàng như ô tô, xe máy, điện tử, điện lạnh, gạch, ống thép... Hầu hết các công nghệ sản xuất được ứng dụng trong lĩnh vực này là công nghệ tiên tiến, thiết bị hiện đại, hạn chế ô nhiễm môi trường, bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động. Một số doanh nghiệp vừa và nhỏ bước đầu đã đầu tư đổi mới dây truyền công nghệ, lựa chọn công nghệ phù hợp và sử dụng tối đa thiết bị công nghệ hiện có, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh các sản phẩm trên thị trường.

2. Những hạn chế, yếu kém:

- Thị trường khoa học và công nghệ của tỉnh còn rất nhỏ bé, chưa tạo được môi trường cho thị trường phát triển. Trình độ công nghệ ở đại đa số các doanh nghiệp trong nước còn thấp; nhiều dự án đầu tư vẫn sử dụng công nghệ lạc hậu, không đồng bộ, dẫn đến sản phẩm hàng hóa có sức cạnh tranh thấp.

- Việc đa dạng hóa các nguồn lực đầu tư tài chính cho khoa học và công nghệ còn rất hạn chế, đồng thời, vốn ngân sách đầu tư còn thấp và chưa có trọng tâm, trọng điểm, còn dàn trải và thiếu tập trung. Số lượng các đề tài nghiên cứu hàng năm lớn nhưng kinh phí, quy mô nghiên cứu còn hạn chế, một số đề tài sau khi được nghiệm thu không có tính nhân rộng.

3. Những thuận lợi để phát triển khoa học, công nghệ:

- Vĩnh Phúc có vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển và liên kết hoạt động khoa học và công nghệ (giáp Hà Nội - trung tâm hàng đầu về khoa học, công nghệ của cả nước; giao thông thuận lợi).

- Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo của Vĩnh Phúc (51,2%) cao hơn so với trung bình của cả nước. Đây là một lợi thế đáng kể vì có khả năng tiếp thu, làm chủ, cải tiến các công nghệ sản xuất tiên tiến, hiện đại.

- Sau hơn 25 năm đổi mới, nhất là hơn 14 năm tái lập, tỉnh đã đạt nhiều thành tựu quan trọng, nền kinh tế của tỉnh đã có một tiềm lực nhất định, có điều kiện đầu tư cho lĩnh vực khoa học và công nghệ.

- Đảng và Nhà nước chủ trương phát triển mạnh khoa học và công gnhệ trong thời gian tới và xác định lấy khoa học và công nghệ làm động lực trực tiếp nâng cao chất lượng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

4. Quan điểm phát triển khoa học và công nghệ

1. Quy hoạch phát triển khoa học, công nghệ Vĩnh Phúc phải phù hợp, gắn kết với chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước, quy hoạch phát triển khoa học, công nghệ cả nước, vùng kinh tế trọng điểm bắc bộ, vùng đồng bằng sông Hồng và phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh cũng như quy hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực: Công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp.

2. Phát triển khoa học, công nghệ của tỉnh phải phục vụ trực tiếp, hiệu quả cho sự phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân; trong đó lấy hiệu quả kinh tế - xã hội là tiêu chí chủ yếu để đánh giá mọi hoạt động khoa học, công nghệ, góp phần thúc đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế; chú trọng công tác phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ và đội ngũ công nhân lành nghề; coi đây là yếu tố có tính quyết định cho sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá của tỉnh.

3. Đầu tư cho khoa học, công nghệ phải được xem là đầu tư cho phát triển. Đầu tư phải tập trung, có trọng tâm, trọng điểm, phải đúng tầm và đến ngưỡng. Phải tích cực huy động các nguồn lực đầu tư cho khoa học và công nghệ, trong đó doanh nghiệp có vai trò chính trong đổi mới phát triển khoa học, công nghệ; Nhà nước đóng vai trò định hướng, quản lý và điều tiết.

5. Về mục tiêu:

Ban Thường vụ Tỉnh uỷ thống nhất với mục tiêu chung và các mục tiêu cụ thể đến năm 2015, 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 mà quy hoạch đã nêu. Phát triển khoa học và công nghệ hướng tới việc đưa nền khoa học và công nghệ của tỉnh đạt trình độ tương ứng với nền kinh tế có những yếu tố cơ bản của một tỉnh công nghiệp vào năm 2015; tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 và thành phố Vĩnh phúc vào những năm 20 của thế kỷ XXI.

6. Về các phương án quy hoạch:

Ban Thường vụ Tỉnh uỷ nhất trí lựa chọn phương án 2 (phương án phát triển khoa học, công nghệ mức trung bình). Trong đó:

- Tỷ lệ đóng góp của khoa học  công nghệ trong GDP năm 2015 đạt 40%, năm 2020 đạt 45%.

- Đầu tư của toàn xã hội cho khoa học và công nghệ/GDP năm 2015 là 1,5%, năm 2020 là 2,0%.

- Tỷ lệ vốn đầu tư chi cho khoa học và công nghệ so với tổng chi ngân sách đến năm 2015 đạt 2,0%, năm 2020 đạt 2,2% tổng chi ngân sách.

- Tỷ lệ lao động khoa học, công nghệ/ tổng số lao động trong các ngành kinh tế năm 2015 đạt 1:20 và năm 2020 là 1:15.

 7. Về nhiệm vụ:

- Tăng cường tiềm lực khoa học, công nghệ; xây dựng nguồn nhân lực khoa học, công nghệ; tổ chức hệ thống khoa học, công nghệ; xây dựng và phát triển các cơ quan nghiên cứu, chuyển giao khoa học, công nghệ; Quy hoạch một số ngành khoa học chủ yếu về không gian trong lĩnh vực: công nghiệp - xây dựng, dịch vụ, nông nghiệp và phát triển nông thôn, xã hội và nhân văn, phát triển và bảo vệ môi trường.

- Đẩy mạnh các hoạt động khoa học, công nghệ - ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất đời sống, tăng nhanh năng lực khoa học, công nghệ gắn với nâng cao hiệu quả ứng dụng.

- Tăng hàm lượng khoa học, công nghệ trong các sản phẩm, tạo chuyển biến cơ bản về năng suất, chất lượng và hiệu quả ở một số ngành kỹ thuật quan trọng.

- Tạo bước chuyển mạnh mẽ trong việc ứng dụng, phát triển công nghệ cao; chú trọng thu hút các dự án đầu tư công nghiệp có công nghệ cao, đồng thời coi trọng công nghệ mức trung bình, tiên tiến; ưu tiên đầu tư xây dựng một số khu sản xuất nông nghiệp công nghệ cao.

- Tập trung nghiên cứu ứng dụng và triển khai có hiệu quả các tiến bộ khoa học và công nghệ, công nghệ mới, công nghệ sinh học, công nghệ sạch và đổi mới hệ thống tổ chức khoa học, công nghệ góp phần tăng năng suất lao động và chất lượng sản phẩm. ứng dụng rộng rãi công nghệ sinh học trong sản xuất nông nghiệp và bảo vệ môi trường. Nghiên cứu ứng dụng có hiệu quả các dạng năng lượng mới, năng lượng tái tạo, công nghệ sử dụng tiết kiệm năng lượng.

8. Về giải pháp thực hiện:

Ban thường vụ Tỉnh uỷ nhất trí với các nhiệm vụ và giải pháp mà quy hoạch đã nêu. Trong đó, cần nhấn mạnh các giải pháp về tăng cường  sự lãnh đạo của Đảng và chính quyền các cấp; nâng cao nhận thức về vai trò vị trí của khoa học, công nghệ trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH; đổi mới cơ chế chính sách phát triển khoa học và công nghệ; xã hội hoá hoạt động khoa học và công nghệ, huy động các nguồn lực cho sự nghiệp phát triển khoa học và công nghệ của tỉnh; tăng cường hợp tác trong nước và quốc tế về lĩnh vực khoa học, công nghệ. Coi trọng việc đào tạo phát triển đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ chuyên nghiệp, trình độ cao; phát triển thị trường khoa học, công nghệ. Tăng cường công tác quản lý nhà nước về khoa học, công nghệ.

9. Về tổ chức thực hiện:

Uỷ ban Nhân dân tỉnh giao Hội đồng Khoa học và Công nghệ tỉnh tư vấn giúp cho UBND tỉnh tổ chức chỉ đạo thực hiện Quy hoạch; Sở Khoa học và Công nghệ là đầu mối tăng cường sự liên kết, phối hợp chặt chẽ giữa các sở, ban, ngành, đoàn thể địa phương để thực hiện quy hoạch phát triển khoa học và công nghệ tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Trong quá trình tổ chức triển khai, cần bổ sung, điều chỉnh quy hoạch cho phù hợp tình hình mới.

Trên cơ sở Kết luận của Ban thường vụ tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh chỉ đạo các sở, ngành liên quan, đơn vị tư vấn tiếp tục chỉnh sửa, hoàn thiện và phê duyệt quy hoạch phát triển ngành khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2020, định hướng đến năm 2030.

 

T/L Ban thường vụ

Chánh văn phòng

(đã ký)

Nguyễn Duy Đông

Các tin đã đưa ngày: