Khoa học và Công nghệ góp phần phát triển chăn nuôi tỉnh Vĩnh Phúc

13/06/2013

 

ThS. Ngô Khánh Lân - TUV. Giám đốc Sở KH&CN

Trong những năm qua ngành chăn nuôi tỉnh Vĩnh Phúc liên tục phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng, tốc độ tăng trưởng cao, bình quân giai đoạn 2006-2010 đạt trên 13%/năm, năm 2011 tăng 2,35%, năm 2012 tăng 5,5%. Trong đó chăn nuôi gia cầm tăng trưởng cao liên tục trên 15%/năm. Tốc độ tăng trưởng GDP nông lâm thủy sản giai đoạn 2006-2010 đạt bình quân 5,7%/năm; cơ cấu kinh tế nông nghiệp của tỉnh chuyển dịch mạnh theo hướng tăng tỷ trọng chăn nuôi, giảm tỷ trọng trồng trọt, năm 2006: Trồng trọt chiếm 52,07%, chăn nuôi chiếm 43,02% đến năm 2012 trồng trọt chiếm 42,95%, chăn nuôi chiếm 52,15%. Chăn nuôi lợn, gia cầm đã phát triển theo hướng trang trại công nghiệp, quy mô lớn; đã hình thành rõ nét chăn nuôi chuyên con, tập trung theo vùng; nhiều loại giống mới được đưa vào chăn nuôi thử nghiệm; các tiến bộ kỹ thuật được áp dụng rộng rãi trong quá trình chăn nuôi nên đã bảo đảm được năng suất, hạn chế dịch bệnh, bảo vệ môi trường tạo hiệu quả kinh tế cao cho người chăn nuôi, nhiều cơ chế, chính sách hỗ trợ được triển khai thực hiện do đó đã kích thích được việc mở rộng chăn nuôi cả về số lượng trang trại, gia trại và quy mô đàn nuôi.

Tổng đàn bò của tỉnh tại thời điểm hiện tại là 94.065 con, trong đó: Bò thịt là 91.524 con, bò sữa 2.541 con; sản lượng thịt hơi năm 2012 đạt 6.000 tấn; sản lượng sữa đạt 5.189,5 tấn.

Tổng đàn trâu của tỉnh là 21.435 con, việc chăn nuôi trâu chưa được chú trọng nên tổng đàn có xu hướng giảm và việc chăn nuôi còn mang tính nhỏ lẻ, phân tán.

Tổng đàn lợn toàn tỉnh có 480.108 con, trong đó đàn lợn nái sinh sản là 77.151 con; lợn đực giống 1.475 con; lợn thịt 401.482 con. Sản lượng lợn hơi xuất chuồng đạt trên 65.000 tấn (chiếm 68,3% tổng sản lượng thịt gia súc, gia cầm hơi xuất chuồng).

Tổng đàn gia cầm của tỉnh 8.566.600 con, trong đó gà: 7.375.800 con; thủy cầm: 1.190.800 con. Sản lượng thịt gia cầm năm 2012 đạt 22.183 tấn; sản lượng trứng gia cầm năm 2012 đạt 333,7 triệu quả.

Ngành chăn nuôi của tỉnh phát triển mạnh và đạt được những kết quả như trên bên cạnh những chủ trương, chính sách của tỉnh, hiệu quả kinh tế cao do chăn nuôi mang lại còn có vai trò đóng góp không nhỏ của việc ứng dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ vào quá trình chăn nuôi kể từ khâu khảo nghiệm, chọn tạo giống, kỹ thuật thâm canh, phòng chống dịch bệnh và xử lý môi trường nuôi.

Từ những năm 2003-2005 việc đưa tiến bộ mới về thụ tinh nhân tạo nhằm Sind hóa đàn bò, nạc hóa đàn lợn đã được coi trọng, thông qua việc khuyến khích áp dụng thụ tinh nhân tạo đã góp phần tăng nhanh đàn bò lai, đàn lợn siêu nạc chiếm tỷ lệ cao trong tổng đàn gia súc. Một số giống gà, vịt siêu thịt, siêu trứng đã được đưa vào nuôi thử nghiệm nhằm từng bước thay thế các giống gia cầm hiện có tại địa phương giúp nâng cao sản lượng thịt, trứng gia cầm.

Các tiến bộ kỹ thuật mới nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường, hạn chế dịch bệnh được triển khai áp dụng như việc hỗ trợ triển khai xây dựng hệ thống hầm Biogas trong chăn nuôi gia súc; sử dụng dung dịch hoạt hóa, điện hóa Anolyte trong chăn nuôi nhằm khử trùng chuồng trại, cho gia súc, gia cầm uống, nhờ triển khai rộng rãi việc sử dụng dung dịch hoạt hóa điện hóa đã góp phần hạn chế dịch bệnh gia súc, gia cầm, giúp cho Vĩnh Phúc không bùng phát dịch cúm gia cầm những năm 2007-2008. Sử dụng nhiều loại chế phẩm sinh học nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi như chế phẩm Bomix1, Boimix2, EM. Đã triển khai thí điểm việc sử dụng khí Biogas để chạy máy nổ nhằm phát điện và xay sát tại một số gia trại quy mô vừa, qua đó nhằm sử dụng hiệu quả nguồn khí sinh học tạo ra và giảm chi phí tiền điện cho các hộ chăn nuôi.

Cùng với các tiến bộ trong chọn tạo giống gia súc, gia cầm, các tiến bộ trong xử lý môi trường chăn nuôi, những năm qua hoạt động khoa học và công nghệ đã hỗ trợ đầu tư nghiên cứu thành công việc sản xuất thức ăn sinh học (sử dụng thảo dược trong thức ăn hỗn hợp) trong chăn nuôi lợn tạo thịt sạch cung cấp cho thị trường với giá thành cao hơn thực phẩm thường mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người chăn nuôi; đây là hướng đi mới để trong định hướng phát triển chăn nuôi của tỉnh cần nắm bắt và hỗ trợ mở rộng.

Các tiến bộ kỹ thuật không ngừng phát triển, nắm bắt được quy luật chung đó, ngành khoa học và công nghệ đã sớm tiếp cận và tổ chức triển khai ứng dụng các tiến bộ mới để đưa vào phục vụ sản xuất, chăn nuôi, năm 2013 đã tổ chức triển khai việc ứng dụng đệm lót sinh học trong chăn nuôi gia súc, gia cầm, đây là một tiến bộ mới hứa hẹn nhiều triển vọng cho người chăn nuôi nhằm giảm công chăm sóc, vệ sinh chuồng trại, mang lại hiệu quả kinh tế và hạn chế ô nhiễm môi trường do việc khử mùi triệt để từ các chế phẩm sinh học được trộn trong các lớp đệm chuồng chăn nuôi; việc áp dụng đệm lót sinh học này đã được một số tỉnh đồng bằng sông Hồng triển khai thực hiện. Mô hình đã được Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân về thăm và khuyến khích áp dụng trong phạm vi cả nước.

Việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật mới vào chăn nuôi gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh thời gian qua đã góp phần không nhỏ vào việc duy trì, phát triển ngành chăn nuôi, hạn chế dịch bệnh và sự ô nhiễm môi trường do chăn nuôi tạo ra nhất là tại các gia trại việc chăn nuôi thường ở sát với nhà dân.

Hưởng ứng chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới của tỉnh, với chức năng, nhiệm vụ của mình ngành khoa học và công nghệ đã lựa chọn 02 tiêu chí (tiêu chí về tăng thu nhập cho người dân và tiêu chí về môi trường) để tập trung các hoạt động nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ góp phần cùng các cấp, các ngành trong tỉnh đưa mục tiêu xây dựng tỉnh nông thôn mới sớm trở thành hiện thực. Để nâng cao thu nhập cho người dân có nhiều yếu tố tác động, song việc phát triển chăn nuôi là yếu tố rất quan trọng, trong chăn nuôi con giống giữ vai trò quyết định vì vậy từ năm 2013 Sở Khoa học và Công nghệ đã triển khai nhiệm vụ nhằm giúp Trung tâm Giống Vật Nuôi của tỉnh đầu tư con giống, tăng số lượng liều tinh phục vụ việc nâng cao tỷ lệ thụ tinh nhân tạo nhằm tăng nhanh đàn lợn lai trên địa bàn tỉnh; mở rộng quy mô ứng dụng chế phẩm sinh học Bomix1 và Bomix2 trong chăn nuôi nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường.

Với những việc làm cụ thể, thiết thực hoạt động khoa học và công nghệ sẽ có những đóng góp quan trọng nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội nói chung và phát triển ngành chăn nuôi nói riêng nhằm nâng cao thu nhập cho người dân, đưa ngành chăn nuôi trở thành ngành mũi nhọn và luôn là nhân tố chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu nội hàm ngành nông nghiệp của tỉnh, bảo đảm phát triển chăn nuôi bền vững và không ngừng phát triển, từng bước bảo đảm thực phẩm sạch phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong tỉnh, trong khu vực và tiến tới xuất khẩu.

N.K.L

Các bài viết khác :
Các tin đã đưa ngày: