Một số giải pháp nâng cao kỹ năng đối thoại, thương lượng, ký kết thỏa ước lao động tập thể tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh

21/05/2014

Quá trình xây dựng quan hệ hài hòa, ổn định và tiến bộ trong doanh nghiệp cùng với việc thương lượng, ký kết thỏa ước lao động tập thể (TULĐTT) là cơ sở pháp lý để tổ chức công đoàn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng cho công nhân lao động. Việc ký kết TULĐTT nhằm nâng cao vị thế người lao động, tạo ra sự phát triển bền vững cho các doanh nghiệp nói riêng và cho nền kinh tế nói chung. Tuy nhiên, số lượng doanh nghiệp có tổ chức công đoàn nhưng chưa thương lượng, ký kết TULĐTT trên địa bàn Vĩnh Phúc vẫn chiếm tỷ lệ cao. Vì vậy, trong năm 2013, Liên đoàn Lao động Tỉnh đã thực hiện đề tài: “Thực trạng và giải pháp nâng cao kỹ năng đối thoại, thương lượng, ký kết thỏa ước lao động tập thể tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc” nhằm đưa ra các giải pháp nâng cao kỹ năng đối thoại, thương lượng, ký kết thỏa ước lao động tập thể tại các doanh nghiệp.

Tính đến hết năm 2013, trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc có hơn 5.700 doanh nghiệp được cấp phép kinh doanh còn hiệu lực. Có 3.827 doanh nghiệp đang hoạt động, sử dụng 106.421 lao động. Trong đó có 20 doanh nghiệp nhà nước, 3.776 doanh nghiệp ngoài nhà nước và 77 doanh nghiệp FDI. Số doanh nghiệp có công đoàn cơ sở là 217 với tổng số 54.037 đoàn viên công đoàn.

Theo khảo sát của Liên đoàn Lao động Tỉnh tại 1 số doanh nghiệp ở Vĩnh Yên, Bình Xuyên và Phúc Yên, thời gian làm việc của công nhân lao động trong một ngày là 8 giờ (chiếm 84,93%). Tuy nhiên, vẫn có những bộ phận do đặc thù công việc nên làm việc trên hoặc dưới 8 giờ; thường xuyên làm thêm giờ tập trung ở các doanh nghiệp gia công may mặc, giầy da. Có 94,52% công nhân trả lời có việc làm ổn định, thường xuyên. Công nhân thiếu việc làm tồn tại ở các doanh nghiệp vật liệu xây dựng. Số liệu khảo sát cho thấy, doanh nghiệp và công nhân ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn chiếm 62,33%; hợp đồng lao động xác định thời hạn từ 12 đến 36 tháng chiếm 34,25%. Tỷ lệ tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp đạt 99% công nhân lao động; tuy nhiên trên thực tế có nhiều doanh nghiệp còn nợ tiền cơ quan bảo hiểm xã hội, nên việc thanh toán các chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động… cho người lao động chưa được kịp thời. Công tác an toàn vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp đã bước đầu được quan tâm, với 85% các đơn vị được trang bị đầy đủ và đảm bảo các điều kiện về an toàn lao động. Hầu hết công nhân lao động khi vào doanh nghiệp làm việc đều được ký hợp đồng lao động, được biết về chế độ tiền lương của mình và thời gian làm việc của doanh nghiệp. Ngoài ra doanh nghiệp và công đoàn của công ty duy trì được chế độ thăm hỏi khi công nhân lao động bị ốm đau, gia đình có việc hiếu, hỷ....Tuy vậy, gần 70% công nhân lao động chưa có nhà ở ổn định, chủ yếu là những người có tuổi cao và thâm niên công tác lâu năm. Thu nhập của công nhân trong các khu công nghiệp bình quân từ 2-4,5 triệu đồng. Ngoài lương, công nhân được doanh nghiệp hỗ trợ bữa ăn ca, tiền thưởng chuyên cần hàng tháng, được hỗ trợ trượt giá, tiền đi lại và tiền nhà ở. Các loại trên tùy từng doanh nghiệp và theo các mức khác nhau, được công khai tại mỗi doanh nghiệp.

Hiện tại, số doanh nghiệp đã có tổ chức công đoàn nhưng chưa thương lượng và ký kết TULĐTT chiếm tỷ lệ cao (trên 50%). Chất lượng và hiệu quả các văn bản TULĐTT phụ thuộc rất nhiều vào việc thượng lượng và thực hiện văn bản đó. Tuy nhiên, tỷ lệ các doanh nghiệp tổ chức thương lượng thực sự để mang lại lợi ích cho người lao động trước khi ký kết còn rất thấp, chủ yếu ở các doanh nghiệp nhà nước hoặc các doanh nghiệp đã cổ phần hóa. Các văn bản TULĐTT ở các doanh nghiệp thuộc khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân hầu hết mang tính hình thức, chủ yếu sao chép lại những quy định đã có của luật, ít có những thỏa thuận về quyền lợi cho người lao động cao hơn so với quy định của pháp luật lao động.

Từ những thực trạng về đối thoại, thương lượng, ký kết TULĐTT và thực hiện TULĐTT trong các doanh nghiệp trên địa bàn Tỉnh cho thấy, muốn xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong doanh nghiệp thì việc thương lượng, ký kết TULĐTT đóng vai trò rất quan trọng. Đồng thời đây cũng là cơ sở pháp lý để tổ chức công đoàn bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của đoàn viên và người lao động. Vì vậy, để nâng cao vị thế người lao động, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và điều kiện làm việc cho người lao động, hạn chế nguy cơ đình công, lãn công, cùng chung sức xây dựng doanh nghiệp thì tổ chức công đoàn cơ sở và người lao động khi ký TULĐTT, cần phải có những kỹ năng đối thoại, thương lượng bình đẳng để đi đến thống nhất, tránh hình thức. Đồng thời thành lập các Tổ tư vấn pháp luật tại các công đoàn cấp trên cơ sở, nhằm đáp ứng nhu cầu pháp luật và trang bị kỹ năng đàm phán, thương lượng và kiến thức pháp luật để công đoàn cơ sở tiến hành tham gia đàm phán, thương lượng tập thể có hiệu quả nhất và ký kết TULĐTT đúng với quy định của pháp luật. Công tác chuẩn bị để ký kết TULĐTT cũng rất có ý nghĩa, bởi TULĐTT phải đảm bảo nội dung có lợi hơn cho người lao động, đồng thời phải tuân thủ đúng các quy định của pháp luật, vì vậy, người đại diện cho tập thể người lao động phải có đủ tư cách đại diện, hai bên phải có thiện chí thương lượng, có đủ kỹ năng, năng lực và kiểm soát thì mới đem lại hiệu quả của TULĐTT.

Hiện nay, ngoài công tác hỗ trợ tư vấn, Liên đoàn Lao động Tỉnh cũng đã thành lập Tổ chuyên gia hỗ trợ công đoàn cơ sở thương lượng, xây dựng và ký kết TULĐTT cấp tỉnh, vì vậy công đoàn cơ sở đã được hỗ trợ nhằm bảo vệ quyền lợi của người lao động theo quy định hiện hành. Đây là một trong những nỗ lực góp phần chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho công nhân lao động, để người lao động gắn bó với doanh nghiệp, vượt qua những khó khăn trong giai đoạn hiện nay.

BBT

 

Các tin đã đưa ngày: