Thực hiện chính sách dân tộc và miền núi đối với địa bàn đặc biệt khó khăn ở Vĩnh Phúc

20/05/2014

Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách cụ thể nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số, giúp củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc. Xác định việc thực hiện tốt các chính sách dân tộc góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị để đồng bào dân tộc và miền núi tránh tụt hậu, hội nhập quốc tế, phù hợp tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xu thế phát triển của khu vực đang là một nhu cầu bức thiết. Tuy nhiên, quá trình thực hiện chính sách dân tộc ở từng nơi, từng lúc còn nhiều vấn đề đặt ra, cần phải tiếp tục nghiên cứu và có những đề xuất kịp thời. Vì vậy, việc thực hiện đề tài: “Đánh giá việc thực hiện các chính sách dân tộc và miền núi đối với địa bàn có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn ở Vĩnh Phúc giai đoạn 2006-2012, đề xuất các giải pháp thực hiện các chính sách trong giai đoạn 2013-2020” là cần thiết nhằm xây dựng cơ sở khoa học và thực tiễn, đề xuất các phương hướng và giải pháp phù hợp nhằm đổi mới việc thực hiện chính sách dân tộc đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay.

Thực hiện đề tài, Ban Dân tộc tỉnh Vĩnh Phúc đã phối hợp cùng Viện Dân tộc học (Viện KHXH Việt Nam) tiến hành nghiên cứu, tổng kết từ 39 xã miền núi, trong đó có 4 xã được thụ hưởng từ Chương trình 135 giai đoạn 2 gồm: Vân Trục (Lập Thạch), Trung Mỹ (Bình Xuyên), Bồ Lý, Đạo Trù (Tam Đảo). Thực hiện chính sách dân tộc với các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn ở Vĩnh Phúc giai đoạn 2006-2012, trên địa bàn Tỉnh đã đồng loạt triển khai các Chương trình 134; Chương trình 135 giai đoạn II; chính sách cho vay vốn để phát phát triển sản xuất theo Quyết định số 32/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người nghèo thuộc vùng khó khăn; chính sách đối với người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số; ngoài ra còn có các chính sách về y tế, văn hóa, giáo dục, môi trường; hỗ trợ báo, tạp chí... Trong giai đoạn 2006-2012, thực hiện các dự án, chính sách thuộc Chương trình 135, Tỉnh đã đầu tư 6.810 triệu đồng để hỗ trợ tiền giống lúa, ngô phục vụ sản xuất; hỗ trợ 180 tấn phân bón các loại, nhiều máy móc, công cụ, tổ chức hàng trăm buổi hội thảo, tập huấn và mô hình trình diễn nhằm đưa các giống cây trồng, vật nuôi năng suất cao, chất lượng tốt, các mô hình sản xuất hay để phổ biến cho bà con vùng khó khăn. Nhờ đó, đến nay toàn Tỉnh đã giải quyết được vấn đề an ninh lương thực cho người dân, tỷ lệ hộ nghèo giảm đáng kể qua từng năm. Với các dự án phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu, đã đầu tư 43.566 triệu đồng đầu tư xây dựng 106 công trình về giao thông nông thôn, trạm y tế, thủy lợi, trường học, nhà văn hóa... Các công trình đến nay đều phát huy hiệu quả, góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất, giao lưu hàng hóa, phục vụ sản xuất kinh doanh và nhu cầu sinh hoạt, cải thiện nâng cao đời sống nhân dân. Đến nay các mục tiêu về hạ tầng tại các xã, thôn đặc biệt khó khăn cơ bản đáp ứng 85% nhu cầu. Các dự án về xây dựng trung tâm cụm xã miền núi; đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cán bộ xã, thôn; hỗ trợ nâng cao đời sống nhân dân... đã phát huy hiệu quả, góp phần nâng cao kiến thức để áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất và đầu tư thâm canh, từ đó thúc đẩy phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững tại địa phương. Ngoài ra, đồng bào vùng khó khăn của tỉnh còn được hỗ trợ trực tiếp về y tế, giáo dục và được thụ hưởng các chương trình an sinh xã hội.

Cùng với sự phát triển của đất nước, cơ chế chính sách cho vùng dân tộc, miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn đã có sự thay đổi căn bản, ngày càng sát với thực tế và đã tập trung giải quyết những vấn đề khó khăn, bức xúc nhất của vùng dân tộc và miền núi, tạo đà cho khu vực này phát triển. Cùng với những chính sách đầu tư hỗ trợ phát triển kinh tế, xã hội, các chính sách kết hợp phát triển kinh tế gắn với bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường, đảm bảo an ninh quốc phòng cũng đã được ban hành. Các chính sách về nông nghiệp, nông thôn, giáo dục đào tạo, y tế, văn hóa thể dục thể thao,...đã tạo thành hệ thống chính sách tương đối toàn diện. Các chương trình, dự án được thực hiện công khai, dân chủ từ cơ sở, đầu tư đúng mục đích, đối tượng, đã tạo được lòng tin và hiệu ứng nhiệt tình của nhân dân.

Tuy nhiên, việc thực hiện các chính sách dân tộc vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế như: Thời gian cho mỗi chương trình, dự án ngắn, thường mang tính nhiệm kỳ, nên thiếu tính chiến lược lâu dài; một số chính sách chưa phù hợp với đặc điểm, tình hình thực tế của địa phương nên quá trình triển khai còn gặp nhiều khó khăn; công tác vận động, tuyên truyền chưa đạt hiệu quả như mong muốn,...Nguyên nhân chính là do kinh tế - xã hội của vùng dân tộc, miền núi có xuất phát điểm thấp; nhận thức của người dân còn nhiều hạn chế; nguồn lực đầu tư còn thấp, dàn trải, thiếu tập trung...

Từ kinh nghiệm rút ra trong quá trình triển khai các chương trình, dự án trong những năm qua, để thực hiện có hiệu quả chính sách dân tộc đối với địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn ở Vĩnh Phúc giai đoạn 2013-2020, thời gian tới, các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương cần tiếp tục tăng cường và đẩy mạnh hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho cùng đồng bào dân tộc và miền núi, đáp ứng nhu cầu phát triển của địa phương, giảm khoảng cách phát triển kinh tế - xã hội giữa các vùng miền. Khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng đi đôi với bảo vệ môi trường, phát triển bền vững. Phát huy nội lực trên cơ sở nguồn hỗ trợ của Trung ương và Tỉnh. Đảm bảo đầu tư tập trung, đúng mục đích, tránh lãng phí. Đồng thời không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở, cán bộ làm công tác dân tộc,...

Việc thực hiện chính sách dân tộc đối với địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn ở Vĩnh Phúc nói riêng và của cả nước nói chung, ngoài việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, còn có ý nghĩa rất lớn về chính trị, an ninh, quốc phòng, phát huy bản sắc dân tộc. Vì vậy, trong những năm tới, các cấp chính quyền trong Tỉnh cần quan tâm hơn nữa đến việc ưu tiên đầu tư, hỗ trợ để đồng bào tự vươn lên, ổn định sản xuất và cuộc sống. Ngoài việc xây dựng các chương trình bám sát điều kiện thực tế của các địa phương, rất cần đến việc đầu tư hỗ trợ thúc đẩy phát triển sản xuất; chế biến và tiêu thụ sản phẩm; phát triển dịch vụ, du lịch; tăng cường đào tạo nghề để hộ nghèo theo kịp sự chuyển đổi, phát triển kinh tế trong vùng.

Phòng CNTT

 

Các tin đã đưa ngày: