Mô hình cung cấp năng lượng tái tạo cho bản làng, điểm văn hóa, khu du lịch xa lưới điện

24/07/2012

Năng lượng là yếu tố cần thiết cho sản xuất, sinh hoạt và hầu hết các hoạt động của con người. Do nhu cầu sử dụng năng lượng của con người ngày càng tăng, các nguồn năng lượng hóa thạch ngày càng cạn kiệt, quá trình khí hậu trái đất ấm dần lên đang là mối đe dọa đối với con người. Để đối phó với nó, hầu hết các quốc gia trên thế giới, trong khu vực đều tích cực triển khai nhiều hoạt động tiết kiệm năng lượng và phát triển năng lượng tái tạo, khai thác các nguồn năng lượng gió, mặt trời, biomass, địa nhiệt, thủy điện nhỏ…

Trong thời gian qua, tỉnh Vĩnh Phúc đã tiếp nhận và triển khai nhiều dự án, đề tài về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, về khai thác và sử dụng năng lượng tái tạo đạt hiệu quả cao, tác động lớn đến phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Tuy nhiên, chưa có đề tài nghiên cứu, xây dựng mô hình phối hợp sử dụng nhiều dạng năng lượng tái tạo hỗ trợ, thay thế năng lượng thương mại cung cấp cho các bản làng, điểm văn hóa, khu du lịch xa lưới điện. Chính vì vậy, trong năm 2010, Viện Khoa học năng lượng đã nghiên cứu và đề xuất thành công một số mô hình năng lượng tái tạo cho các bản, làng, khu du lịch xa lưới điện, hỗ trợ năng lượng phục vụ sinh hoạt, phục vụ nhu cầu du lịch, điều mà trước đây không có hoặc rất thiếu.

Với địa hình chia làm 3 vùng: rừng núi, trung du, đồng bằng và điều kiện tự nhiên phong phú về đất đai, rừng, núi, sông suối, đầm, hồ… cũng như điều kiện khí tượng thủy văn thuận lợi, Vĩnh Phúc là một tỉnh có tiềm năng lớn về năng lượng tái tạo (năng lượng mặt trời, gió, thủy năng, biogas, biomass). Về năng lượng mặt trời, Vĩnh Phúc có diện tích tự nhiên là 6.882 km2 với số giờ nắng từ 1400 - 1.800 giờ/năm; cường độ bức xạ mặt trời cao nên tiềm năng năng lượng mặt trời rất lớn; về năng lượng biogas, Vĩnh Phúc có khoảng 700 ngìn con trâu bò, lợn… cung cấp trên 16 triệu m3 khí biogas; về xây dựng thủy điện nhỏ, lượng mưa hàng năm đo được lên tới 1600mm, với hệ thống 4 con sông lớn chảy qua tỉnh và nhiều sông ngòi nhỏ khác tạo điều kiện cho việc xây dựng phát triển các công trình thủy điện nhỏ quy mô gia đnh...

Trong quá trình thu thập các dữ liệu về tình hình cung cấp và sử dụng năng lượng tái tạo, đề tài đã nghiên cứu xác định sơ bộ các bản làng, điểm văn hóa xã, điểm du lịch xa lưới điện của tỉnh Vĩnh Phúc có các tiêu chí lựa chọn phù hợp. Qua đó đưa ra 3 địa điểm có khả năng xây dựng mô hình năng lượng tái tạo bao gồm xã Ngọc Thanh - thị xã Phúc Yên; khu du lịch Tây Thiên (xã Đại Đình) - huyện Tam Đảo; xã Đạo Trù - huyện Tam Đảo.

Sau khi nghiên cứu tính toán, đánh giá lý thuyết, nhóm nghiên cứu đã tiến hành triển khai xây dựng, lắp đặt hệ thống đèn chiếu sáng sử dụng năng lượng mặt trời tại khu vực trung tâm văn hóa của Đội Lâm Trường xã Đạo Trù, huyện Tam Đảo. Với sự phối hợp giữa nhóm thực hiện đề tài và các đoàn thể chính quyền nhân dân Đội Lâm Trường đã triển khai xây dựng thành công mô hình hệ thống đèn chiếu sáng sử dụng năng lượng mặt trời công suất 160Wp cho trung tâm văn hóa của Đội. Mô hình được vận hành thử nghiệm và nghiệm thu về kỹ thuật. Hiện tại, hệ thống đèn chiếu sáng dùng NLMT đã đi vào hoạt động ổn định phục vụ chiếu sáng điểm văn hóa công cộng của Đội.  Hệ thống điện mặt trời với công suất 160 Wp đã lắp đặt tại Đội là nguồn điện có chất lượng điện áp ổn định, đang hoạt động tốt, phát huy tác dụng phục vụ chiếu sáng điểm văn hóa công cộng của Đội, các cuộc hội họp dân, họp thanh, thiếu nhi và đặc biệt có ý nghĩa khi trong Đội có việc hiếu, hỷ. Đây cũng là nguồn điện quý hiếm phục vụ việc nạp pin các thiết bị liên lạc như điện thoại di động, điện thoại cố định không dây.

Song song với đó, nhóm nghiên cứu cũng đã khảo sát và tiến hành xây dựng hầm biogas composite quy mô 8m3 tại hộ gia đình ông Trần Xuân Trường thuộc đội Lâm Trường, xã Đạo Trù nhằm tận dụng nguồn phân và rác thải chăn nuôi hiện có tại gia đình, giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Ngay sau khi nghiệm thu, hướng dẫn kỹ thuật, nhóm thực hiện bàn giao hầm Biogas cho hộ gia đình sử dụng và bảo quản. Kết quả theo dõi vận hành bước đầu cho thấy khả năng sinh khí rất tốt, đồng hồ áp lực luôn ở mức 16 kPa, ứng với nhiệt độ ngoài trời dao động từ 12-240C.

Đề tài cũng đã khảo sát, thiết kế và lựa chọn giải pháp thủy điện nhỏ cho khu vực du lịch Tây Thiên. Nhóm nghiên cứu đã thiết kế và lựa chọn giải pháp cấp nước cho tua bin bằng đường ống, đi ven bờ suối, được gá đỡ bởi các trụ bê tông, với tổng chiều dài tuyến đường ống gần 100 m đem lại nguồn điện sinh hoạt ổn định cho các hộ dân tại khu du lịch. Tại điểm Suối Lanh, xã Ngọc Thanh, do nhiều yếu tố về địa hình, việc đặt thiết bị còn gặp nhiều khó khăn, nguồn kinh phí hạn hẹp vì vậy nội dung xây dựng mô hình thủy điện nhỏ tại đây vẫn chưa hoàn thành được theo đúng tiến độ thực hiện.

Việc khai thác các nguồn năng lượng tại chỗ, đặc biệt các nguồn năng lượng tái tạo là việc làm đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao, đang được nhà nước quan tâm, khuyến khích. Kết quả triển khai mô hình năng lượng tái tạo tại vùng sâu, vùng xa lưới điện tại xã Đạo Trù, huyện Tam Đảo đã mang lại nhiều hiệu quả về kinh tế - xã hội. Việc xây dựng thành công các mô hình năng lượng tái tạo ở đây sẽ là mô hình thí điểm để có thể nhân rộng ra một số địa điểm tương tự có tiềm năng về năng lượng tái tạo của tỉnh Vĩnh Phúc.

BT. Thanh Niên

Các bài viết khác :
Các tin đã đưa ngày: