Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh

24/07/2012

 

Theo thống kê, hiện nay trên địa bàn tỉnh đã có gần 4000 doanh nghiệp, con số đó chưa tính các cơ sở sản xuất, kinh doanh được cấp giấy phép kinh doanh tại địa bàn huyện, thị, thành phố. Theo đánh giá, các doanh nghiệp chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ và vừa cả về quy mô và trình độ phát triển. Hiện nay, có khoảng 150 doanh nghiệp áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến như ISO 9000, ISO 14000... và chủ yếu tập trung ở các doanh nghiệp sản xuất lớn, liên doanh có vốn đầu tư nước ngoài và các ngành cơ khí, vật liệu xây dựng... Còn ở các doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhất là các doanh nghiệp hoạt động về sản xuất, chế biến, kinh doanh trong lĩnh vực thực phẩm thì việc áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn như ISO 9000, ISO 14000 hoặc GMP, HACCP, ISO 2200 thì còn rất hạn chế.

Theo điều tra của Trung tâm Kỹ thuật và Tiết kiệm năng lượng Vĩnh Phúc tại 80 doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh cho thấy, chỉ có 2 đơn vị đang áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000 và ISO 22000, còn lại các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất chưa áp dụng bất kỳ hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến nào. Hầu hết các cơ sở đều chấp hành pháp luật của nhà nước trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh như công bố tiêu chuẩn chất lượng, chứng nhận đủ điều kiện về vệ sinh an toàn thực phẩm. Tuy nhiên, vẫn còn một số đơn vị có vi phạm về ghi nhãn hàng hóa, kiểm định phương tiện đo... Về tình hình sử dụng lao động, đa số là sử dụng lao động phổ thông, vì vậy lao động còn rất hạn chế trong việc tiếp cận khoa học và công nghệ mới. Về trình độ công nghệ, đa số các doanh nghiệp vẫn sử dụng công nghệ thô sơ, thủ công, một số cơ sở chế biến theo dây truyền đơn giản hoặc sản xuất ở dạng nguyên liệu hoặc bán sản phẩm. Còn lại một số ít được đầu tư công nghệ, thiết bị tương đối hiện đại và đồng bộ như Công ty TNHH Hà Anh, Công ty Chè Thế hệ mới, Công ty TNHH Ong Tam Đảo... Về chất lượng thực phẩm, nghiên cứu cho thấy, các chỉ tiêu vi sinh của các mẫu thực phẩm có 3/30 mẫu không đạt cả 2 chỉ tiêu là Coliform và E.coli; có 11/30 mẫu không đạt 1 chỉ tiêu, còn lại 16/30 mẫu đạt yêu cầu. Các mẫu không đạt vượt mức giới hạn cho phép từ 1 đến 3 lần, tuy nhiên cũng có mẫu vượt tới 80 lần so với quy định. Đối với các chỉ số về hàm lượng kim loại, có 12 mẫu không đạt về chỉ tiêu Antimon, 8 mẫu không đạt chỉ tiêu về chì, 10 mẫu không đạt chỉ tiêu về kẽm. Các mẫu có chỉ tiêu vượt giới hạn cho phép từ một đến vài lần, tối đa vượt 20 lần giới hạn cho phép. Từ thực trạng trên nên hàng năm số vụ ngộ độc thực phẩm trên địa bàn tỉnh đang ở mức cao và số người ngộ độc ngày càng tăng.

Nguyên nhân là do các đơn vị, cơ sở chủ yếu là các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh nhỏ lẻ, chưa sử dụng các trang, thiết bị hiện đại, đồng bộ, trình độ công nghệ còn thấp. Việc sử dụng lao động chưa qua đào tạo còn nhiều, sản xuất sản phẩm hàng hóa mang tính thời vụ và không có tính ổn định cao về sản phẩm dẫn tới sự không ổn định về lực lượng lao động, khó có thể áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến. Hơn nữa, nhận thức của người tiêu dùng và người sản xuất còn hạn chế, nhất là ở các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ. Về chính sách của nhà nước cũng là một rào cản, đó là hiện nay chưa có các quy định bắt buộc áp dụng cho tất cả các lĩnh vực sản xuất, chế biến, kinh doanh ở lĩnh vực này mà chỉ dừng lại ở những quy mô và phạm vi nhất định. Vì vậy, việc áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến nhằm đảm bảo năng suất, chất lượng sản phẩm vẫn còn gặp rất nhiều trở ngại.

Từ thực tế như trên, rất cần có một hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm tại các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thực phẩm, trong đó cần tập trung mạnh vào các giải pháp cụ thể như: Tăng cường công tác thông tin tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng giúp người sản xuất, tiêu dùng hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của chất lượng và quản lý chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và đời sống. Đặc biệt, các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh cần chú trọng, quan tâm đầu tư trang thiết bị và công nghệ về quản lý, kiểm soát chất lượng sản phẩm hàng hóa, không ngừng nâng cao trách nhiệm với cộng đồng, xã hội về các sản phẩm do mình sản xuất, kinh doanh. Kiểm tra nghiêm ngặt nguyên vật liệu đầu vào để hạn chế các sản phẩm kém chất lượng ở đầu ra. áp dụng và duy trì các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến như ISO 9001 : 2008; ISO 22000 : 2005; GMP; HACCP; 5S... Các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan cần tổ chức tập huấn, tuyên truyền, hỗ trợ, tư vấn các văn bản pháp lý, hệ thống quản lý chất lượng để các đơn vị, cơ sở, doanh nghiệp có thể áp dụng...

Để có được những sản phẩm chất lượng, yêu cầu quản lý đối với doanh nghiệp là rất lớn. Tuy nhiên, người tiêu dùng cũng cần nâng cao trách nhiệm nhằm bảo vệ quyền lợi của mình, bảo vệ cộng đồng. Để có thể hội nhập sâu rộng, việc áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng đang là một nhu cầu tất yếu để các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh tồn tại, phát triển.

BBT.

Các tin đã đưa ngày: