Đánh giá khả năng thích nghi, năng suất, chất lượng tinh dịch và năng suất đời sau hai giống lợn đực cao sản của Pháp Maxter16 và Pi4

13/06/2013

 

Thực hiện chương trình nạc hóa đàn lợn, đến nay trên địa bàn Tỉnh, đàn lợn nái lai ngoại chiếm 80-90% tổng đàn. Đặc biệt các huyện đồng bằng như Vĩnh Tường, Yên Lạc chiếm 90-100%. Chương trình nạc hoá đàn lợn tại Vĩnh Phúc đã bước đầu cải tạo năng suất đàn lợn tại các địa phương cả về chất lẫn về lượng đưa tỷ lệ nạc từ 30-35%, lên 40-50% khối lượng xuất chuồng từ 50-60kg/con lên 70-100kg/con. Để tiếp tục cải tạo đàn lợn theo hướng tăng năng suất, chất lượng, giảm chi phí đầu vào, trong những năm gần đây một số giống lợn lai cao sản được nhập về và đưa vào lai tạo với đàn lợn nái tại các địa phương như giống Pidu, Picheng, Pi65, Pi75, đặc biệt là hai giống lợn mới nhất hiện nay là Pi4 và Maxter16 của công ty France Hybrides. Đây là hai giống lợn lai có 3 và 4 máu ngoại, hai giống lợn này có nhiều ưu điểm về năng suất và chất lượng hơn hẳn các giống lợn hiện nay, ngoại hình đầu nhỏ, xương nhỏ cơ bắp rất phát triển có khả năng tăng trọng nhanh 130-150 ngày đạt 100kg, tỷ lệ nạc 62-68%, tiêu tốn thức ăn ít 2,4-2,6 kg thức ăn/1kg tăng trọng.

Năm 2012 Trung tâm Giống vật nuôi tỉnh Vĩnh Phúc thực hiện đề tài: “Đánh giá khả năng thích nghi, năng suất, chất lượng tinh dịch và năng suất đời sau hai giống lợn đực cao sản của Pháp Maxter16 và Pi4” nhằm kiểm định khả năng thích nghi, chất lượng tinh dịch của hai giống lợn Maxter 16 và Pi4 khi nuôi tại Vĩnh Phúc và năng suất đời sau khi lai tạo 2 giống này với đàn lợn nái nền lai tại các địa phương trên địa bàn tỉnh.

Qua các chỉ tiêu theo dõi chất lượng tinh dịch của 2 giống Maxter 16 và Pi4 cho thấy lượng xuất tinh của 2 giống lợn  Maxter16 và Pi4 nuôi tại Trung tâm vụ đông-xuân có lượng xuất tinh tương đương nhau. Lượng xuất tinh của 2 giống Maxter16 và Pi4 thấp hơn lượng xuất tinh của giống lợn Landrace. Lượng xuất tinh của hai giống lợn Maxter16 và Pi4 có hệ số biến động thấp hơn hệ số biến động của lượng xuất tinh của giống lợn Landrace điều này chứng tỏ thể tích tinh nguyên của các cá thể và những lần khai thác khác nhau của hai giống lợn Maxter16, Pi4 ổn định hơn giống lợn Landrace. Hoạt lực tinh trùng sau thời gian bảo quản 24h, 48h và 72h trong vụ đông-xuân của 3 giống lợn có mức giảm đều nhau là 0,3. Hoạt lực tinh trùng tại thời điểm 72h của cả 3 giống vẫn đảm bảo chất lượng phục vụ công tác thụ tinh nhân tạo theo quy định.

Tinh dịch của 2 giống Maxter 16 và Pi4 nuôi tại Trung tâm khi đem phối giống cho đàn nái lai tại các địa phương trên địa bàn tỉnh và đàn lợn nái ngoại tại trung tâm cho tỷ lệ thụ thai từ 73,33% đến 80%. Số con sơ sinh trên ổ bình quân đạt 10,87 con đến 11,87 con trên ổ. Số con nuôi sống 24 giờ, 21 ngày bình quân đạt từ 10,57 con đến 11,65 con (sau 24h); 9,63 con đến 10 con (sau 21 ngày) đạt yêu cầu tiêu chuẩn kỹ thuật của lợn nái ngoại.

Khả năng tăng trọng con lai đời sau của giống Marter16, Pi4 cao hơn giống Landrace, giống Maxter16 cao hơn giống Pi4, lợn khoẻ mạnh tỷ lệ mắc bệnh thấp chỉ mắc các bệnh thông thường.

Kết quả mổ khảo sát cho thấy lợn thương phẩm của giống Maxter16 và Pi4 có chất lượng cao thịt nạc màu đỏ, khi ăn có vị béo tỷ lệ móc hàm, tỷ lệ thịt xẻ và tỷ lệ nạc đạt cao: 82,67%; 72,4%; 62,8%.

Hạch toán sơ bộ về hiệu quả kinh tế cho thấy, lợi nhuận của nái nuôi sinh sản phối giống cùng 2 loại giống đực ngoại Maxter16 và Pi4 đạt khoảng 16 triệu đồng/năm và lai tạo với lợn đực giống Pi4 cho lợi nhuận cao hơn so với giống Maxter 16 và cao hơn nhiều so với các giống đối chứng.

Phòng CNTT

Các tin đã đưa ngày: