Giải pháp tiết kiệm năng lượng của công ty cổ phần Hợp Thịnh Viglacera

24/07/2012

 

Công ty cổ phần Hợp Thịnh Viglacera tiền thân là Nhà máy gạch Hợp Thịnh được hợp nhất từ hai nhà máy: Nhà máy gạch Hợp Thịnh và Nhà máy gạch Bồ Sao theo Quyết định số 1192/BXD- TCCB ngày 7/7/1978 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng. Trải qua rất nhiều khó khăn, thách thức của thời kỳ quan liêu bao cấp, đến ngày 15/12/2003, Công ty chính thức chuyển sang mô hình hoạt động của Công ty cổ phần. Việc cổ phần hoá doanh nghiệp đã đem lại cơ hội cho người lao động, lịch sử của Công ty đã chuyển sang một trang mới với phương châm: “Đột phá về sản xuất - kinh doanh, liên tục phát triển”.

 Ngay từ ngày đầu hoạt động theo mô hình mới, với ngành nghề hoạt động chính là: Sản xuất, kinh doanh, khai thác vật liệu xây dựng gạch, ngói. Ban giám đốc Công ty đã bám sát tình hình thực tiễn để xây dựng phương án hoạt động phù hợp với đặc thù doanh nghiệp và nhu cầu của thị trường, từng bước đứng vững và ngày càng khẳng định được thương hiệu trên thị trường. Hiện nay công ty có 500 công nhân viên, công suất hoạt động khoảng 220.000 viên/ ngày gồm các sản phẩm: Gạch xây, ngói lợp, gạch lát nền với tổng chi phí năng lượng lên tới 12 tỷ mỗi năm. Hiện công ty đang duy trì 2 lò nung chính với công suất khoảng hơn 6 triệu viên/tháng. Công ty hiện có 3 dây chuyền sản xuất cho 3 sản phẩm khác nhau.

Sau khi gạch viên và ngói hoặc gạch lát nền sản xuất ra sẽ được vận chuyển ra khu vực phơi sấy. Tại đây gạch sẽ được làm mất nước và độ ẩm bằng quạt gió và bằng hình thức phơi dựa vào hiện tượng hiệu ứng nhà kính, hoặc xếp giáp lò nung tận dụng nhiệt của lò trong quá trình nung tỏa ra xung quanh thân lò. Sau khi gạch đã được làm khô khoảng 60% thì sẽ được xếp lên lò và chuyển vào lò sấy, sấy khô hoàn toàn và chuyển vào lò nung. Công ty sản xuất đặc thù liên quan đến quá trình đốt, nung nên nhiên liệu chính được sử dụng là than. Ngoài ra còn sử dụng điện, dầu Diesel, dầu nhớt sử dụng trong các thiết bị máy móc, bôi trơn động cơ. Nhiên liệu chính được sử dụng trong quá trình đốt là than nên sau khi đốt sẽ sinh ra khí CO2 và tỏa nhiệt lớn cũng có tác động nhất định đến công nhân trực tiếp sản xuất và môi trường xung quanh, công ty đã lắp đặt hệ thống thu hồi khí thải để tái sử dụng phục vụ cho quá trình sấy. Tuy nhiên lượng thất thoát ra môi trường vẫn còn khoảng 30%. Về hệ thống điện, Điện lực Vĩnh Yên cung cấp cho công ty qua 2 trạm biến áp, mỗi trạm có công suất 630 KVA và tại mỗi trạm đã có đặt tụ bù công suất phản kháng. Tuy nhiên trong thời gian gần đây công ty đã phải trả thêm tiền công suất phản kháng (số tiền phải trả thêm cao nhất khoảng 20 - 25 triệu đồng/tháng) do có sự thay đổi mạnh về tải. Hàng tháng, công ty phải chi trả khoảng 206.305 kWh, tiêu thụ than khoảng 843,75 tấn, tiêu thụ dầu khoảng 4501,2 lít. Với lượng năng lượng tiêu thụ lớn như trên đã làm gia tăng giá thành của sản phẩm, tính cạnh tranh trên thị trường giảm, ảnh hưởng lớn đến đời sống công nhân viên.

Trước thực trạng trên, được sự giúp đỡ của Trung tâm kỹ thuật và Tiết kiệm năng lượng, công ty đã tiến hành kiểm toán năng lượng sơ bộ, từ đó đã cho thấy, hầu hết các thiết bị tiêu thụ năng lượng trong công ty đang được vận hành dưới các điều kiện công suất cho phép. Các số liệu tiêu thụ năng lượng riêng trong các bộ phận khác nhau của công ty vượt cao quá so với thiết kế và các số liệu kinh nghiệm trong nước cũng như quốc tế. Từ đó Công ty đã áp dụng một hệ thống các giải pháp nhằm giảm năng lượng tiêu hao, hạ giá thành sản phẩm.

Đơn vị tư vấn đã hướng dẫn công ty áp dụng một hệ thống các biện pháp bao gồm: Biện pháp quản lý nội vi, tận dụng ánh sáng tự nhiên và sử dụng bóng đèn có hiệu năng cao, lắp biến tần cho quạt khói hoặc quạt sấy, thay thế tụ bù công suất phản kháng. Theo đó, biện pháp quản lý nội vi được hiểu đơn giản là cách tổ chức sản xuất một cách quy mô, có theo dõi, giám sát, có quy trình, quy định, có tổng kết đánh giá để từ đó đưa sản xuất đi lên không những theo khía cạnh tiết kiệm năng lượng, tăng năng suất mà còn theo khía cạnh phát triển chung, nâng cao điều kiện tiếp cận với sản xuất tiên tiến. Để thực hiện được tốt, đòi hỏi tập thể cán bộ công nhân viên nhà máy ngoài hiểu biết và nhận thức sâu sắc về những vấn đề nêu trên còn phải có quyết tâm thực hiện rất cao và đồng lòng thực hiện một cách dài lâu mới có thể đạt được kết quả tốt. Dự kiến biện pháp quản lý nội vi sẽ tiết kiệm được khoảng 1% năng lượng than do việc tra than có cơ sở hơn, việc phơi gạch sẽ khô hơn và 1,5% điện sử dụng của nhà máy do giảm các động cơ có công suất lớn chạy không tải, tắt các điện sáng khi không cần thiết tại bộ phận lò nung, khu tạo hình tương đương với tổng kinh phí khoảng 130 triệu đồng. Để thực hiện giải pháp này cơ sở cần đầu tư ban đầu một số thiết bị đo đếm cũng như bảng biểu, nội quy với tổng kinh phí là 35 triệu đồng. Việc tận dụng ánh sáng tự nhiên và sử dụng bóng đèn có hiệu năng cao theo tính toán sẽ tiết kiệm được tổng số tiền là 40,420 triệu VNĐ/năm trong khi số vốn đầu tư ban đầu chỉ 9,68 triệu VNĐ. Thời gian thu hồi vốn khoảng là 2,1 tháng.

Việc lắp đặt thêm các bộ biến tần cho các động cơ mang lại hiệu quả rất lớn khi áp dụng giải pháp sử dụng biến tần cho các quạt hút khói hoặc quạt hút cho hầm sấy, lượng điện tiết kiệm mỗi năm là 70.192 kWh. Tổng số tiền tiết kiệm được khi thực hiện dự án là 69,425 triệu VNĐ/năm trong khi số vốn đầu tư ban đầu chỉ 118,243 triệu VNĐ. Thời gian thu hồi vốn khoảng 19 tháng. Đồng thời, khi áp dụng giải pháp thay thế tụ bù công suất phản kháng, lượng điện tiết kiệm mỗi năm là 360.000 kWh. Tổng số tiền tiết kiệm được khi thực hiện dự án là 360 triệu VNĐ/năm trong khi số vốn đầu tư ban đầu chỉ 190 triệu VNĐ. Thời gian thu hồi vốn khoảng là 6 tháng.

Hiện trạng hoạt động của các dây chuyền sản xuất vật liệu xây dựng: gạch, ngói, sản phẩm mỏng của nhà máy về cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu của sản xuất  kinh doanh, tuy nhiên về hiệu quả năng lượng còn có thể cải thiện để đem lại hiệu quả sản xuất, tiết kiệm thêm năng lượng, cải thiện môi trường làm việc. Với các phương án tiết kiệm năng lượng cụ thể này, tổng vốn đầu tư sẽ là 342,923 triệu đồng, trong khi lợi ích đem lại hàng năm lên đến 599,845 triệu đồng. Như vậy phương án TKNL tổng thể có thời gian thu hồi vốn khoảng 7 tháng.

Với những lợi ích hữu hiệu mang lại, công ty đã nỗ lực hoàn thiện việc thực hiện các giải pháp tiết kiệm năng lượng, Không chỉ là bài toán đối với doanh nghiệp trong thời kỳ kinh tế khó khăn, các biện pháp giảm thiểu năng lượng tiêu hao còn là một phương án chung tay cùng nhà nước giải quyết bài toán thiếu hụt điện năng trong cả hiện tại và tương lai.

Khánh Hà

Các tin đã đưa ngày: